Cu Tí kinh doanh gì ở đây?

Mua dân chủ của Bần nông gia,bán kiến thức cho Bác học nhà...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hùng Ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hùng Ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Tần An Dương Vương


theo Hùng Việt
Bách Việt trùng cửu – nguồn http://my.opera.com/bachviet18/blog/

Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN),Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
Người “Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Âu Lạc là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng rõ ràng năm 216 TCN Tần đã đánh chiếm vùng đất này, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương? Nếu An Dương Vương là người đã kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, thì Tần đánh ai ở đất Lục Lương năm 216 TCN?
So sánh thời gian này với hành trạng của Triệu Đà. Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên, rồi được Nhâm Ngao trao lại quyền cai quản ở Nam Hải. Tiếp theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN], (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.

Như vậy Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải mà Tần thành lập trên đất Việt năm 216 TCN. Vì vậy Triệu Đà chính là người “tuấn kiệt” lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.
Một tư liệu khác nói về Triệu Đà là lời trăn trối của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với vua Trần Anh Tông khi nhà vua hỏi kế sách đối phó với giặc phương Bắc. Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…”
Lời kể của Hưng Đạo Vương về hành trạng Triệu Vũ Đế xét kỹ thì thấy không giống gì với chính sử hiện nay. Triệu Đà nếu khởi nghiệp ở Nam Hải thì còn mang đại quân sang châu Khâm châu Liêm đánh chiếm làm gì nữa? Kỳ lạ hơn, Triệu Đà còn dùng kế vườn không nhà trống và lối đánh “du kích”, dùng đoản binh để chống giặc phương Bắc. Nhà Hán có tấn công vào lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà lúc nào đâu mà phải bỏ cả ruộng đồng để đánh du kích?
Lời kể của Trần Hưng Đạo chỉ có thể hiểu được nếu Triệu Đà chính là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, bắt đầu từ huyện Long Xuyên (Long Biên) rồi mới tiến sang chiếm Nam Hải (châu Khâm châu Liêm) và các quận khác.
Theo Truyện Rùa Vàng, Lĩnh Nam chích quái thì Triệu Đà đã đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương. An Dương Vương là nhân vật không hề được chép trong sử sách mà chỉ có trong truyền thuyết. Thực tế lịch sử là Triệu Đà đánh Tần thắng lợi ở đất Âu Lạc, do vậy đưa đến một nhận định bất ngờ: An Dương Vương chính là nhà Tần, đã bị Triệu Đà diệt năm 216 TCN ở Âu Lạc.
Theo Lĩnh Nam chích quái thì An Dương Vương, người Ba Thục, đã cử binh đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường. Điều này hoàn toàn trùng khớp với nhà Tần. Nhà Tần cũng từ đất Thục (Tứ Xuyên), tiến đánh Văn Lang – Âu Lạc. Còn việc xây thành ở đất Việt Thường là việc Tần Thủy Hoàng dời đô từ Hàm Dương xuống phía Đông Nam.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép:Năm thứ 35 (205 TCN), sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trước thì nhỏ nói:
- Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương.
Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía Nam sông Vị….
Ở Quan Trung, số cung đến 300 cái, ở ngoài Quan Trung hơn 400 cái. Thủy Hoàng bèn sai dựng đá ở bờ biển Đông Hải thuộc đất Cù để làm cửa phía Đông của nhà Tần, nhân đấy dời 3 vạn nhà đến Ly Ấp, 5 vạn nhà đến Vân Dương, những nhà này đều được tha việc công dịch mười năm.

Thành Cổ Loa ở đất Việt Thường mà An Dương Vương xây 9 vòng thì ra chính là cung điện (cung A Phòng?) mà Tần Thủy Hoàng đã xây khi dời đô ra gần biển Đông. Ly Ấp phải chăng là Lâm Ấp mà Đại Việt sử ký toàn thư nói đến ở trên (hay là Quế Lâm trong Sử ký Tư Mã Thiên)? Còn Vân Dương hẳn là đất Vân Nam, tức là vùng Tượng Quận. Quan Trung của nhà Tần ở chính vùng đất “Việt Thường” là Quế Lâm và Tượng Quận.
Vua Tần được gọi là An Dương Vương bởi vì Tần xuất phát từ phía Tây (Thục) đã diệt nhà Đông Chu ở phía Đông. An Dương nghĩa rõ ràng là Yên Đông. Chữ Dương này tương tự như trong Lạc Dương, kinh đô của Đông Chu vậy.
Thẻ ngọc An Dương được tìm thấy ở Quảng Châu những năm 50 thế kỷ trước với các chữ tiểu triện của nhà Tần là một dẫn chứng xác thực về Tần An Dương Vương đã làm chủ vùng Nam Hải.
Thực ra thì có tới 2 An Dương Vương, hay 2 vua đã dẹp yên phương Đông. An Dương Vương thứ nhất là nhà Chu vì nhà Chu cũng từ phía Tây (Thục) lật đổ nhà Thương Ân ở phía Đông. Nhà Chu cũng cho xây thành ở đất Việt Thường, là vùng Cổ Loa ngày nay. Truyền thuyết Việt đã chép chung chuyện của Chu An Dương Vương và Tần An Dương Vương thành một, dẫn đến sự rối loạn không thể hiểu nổi về nhân vật này.
Nhận định Triệu Đà diệt An Dương Vương là diệt Tần còn đem đến một nhận định khác không kém quan trọng. Vì Quan Trung của nhà Tần như trên là vùng đất gần biển Đông ở Quế Lâm (Lâm Ấp) và Tượng Quận nên Triệu Đà chiếm Quế Lâm và Tượng Quận tức là chiếm Quan Trung của nhà Tần. Người đã dẫn quân chiếm Quan Trung năm Tần Nhị thế thứ 3 là Lưu Bang. Suy luận hiển nhiên: Triệu Đà cũng chính là Lưu Bang. Triệu Đà diệt An Dương Vương trong truyền thuyết Việt là chuyện Lưu Bang diệt Tần trong Hoa sử.
Sử Việt không chép gì về thời kỳ nhà Tần làm chủ đất Việt, nhưng thay vào đó chính là chuyện của An Dương Vương với nước Âu Lạc. Truyện Lý Ông Trọng là tướng của An Dương Vương rồi làm phò mã Tần như vậy cũng trở nên dễ hiểu vì An Dương Vương với Tần ở đây là một mà thôi.
Giai đoạn giữa Tần – Hán này đối với sử Việt thực sự là câu hỏi nan giải, đau đầu. Càng ngẫm càng thấy những chuyện tưởng như vô lý hết mức lại là câu trả lời đơn giản, hợp lý nhất. Đáng tiếc là chẳng mấy ai hiểu đúng mà tin vào những điều này.

( Thêm 1 chi tiết cần lưu ý : An Dương Vương có nỏ thần,còn quân đội cùa Tần - theo nhiều nguồn- bách chiến bách thắng là nhờ có đội quân cung nỏ cực kỳ hùng hậu và kỳ lạ.) - (xem phim Hero đoạn nói về việc Tần tấn công các nước bằng cung tên. Cu Tí)

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Vạn Xuân Lý Nam Đế



“Linh quốc sử từ” tại Giang Xá
Làng Giang là một làng cổ nằm cạnh thị trấn Trôi của huyện Hoài Đức, Hà Nội. Làng này có điều đáng chú ý là nơi có ngôi đền thờ Lý Nam Đế gọi là Quán Giang. Theo thần tích của đền do Nguyễn Bính soạn thì Giang Xá là nơi Lý Nam Đế lớn lên (tại chùa Linh Bảo) và tế trời đất khi khởi nghĩa. Khởi nghĩa thành công, Lý Nam Đế lên ngôi Hoàng đế, lập kỷ nguyên Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân. Giang Xá cùng một số nơi khác được phong là Thang mộc ấp. Khi Lý Nam Đế rút về động Khuất Liêu, dân Giang Xá đã lập sinh từ để cúng tế về sau. Từ Lý Phật Tử lên tập vị bao năm đều có xuân thu quốc tế (do các quan trên về tế xuân). Sau này, tới thời Lê Thần Tông (1622) dân làng mới xin và được cho qui tế.

Đôi câu đối ghi lại được từ Quán Giang:



Bên trên vế đối thứ nhất có hai chữ “Thành Thái” cho biết thời gian sáng tác câu đối này là dưới thời Nguyễn (vua Thành Thái).

Câu đối có phần vế sau chụp không rõ với những chữ Nho cổ khá hiểm hóc. Sau khi thảo luận (cảm ơn các bạn fanzung và minh2mum tại diễn đàn Việt học) đã phiên âm như sau:
洪惟南越肇基貉雄吳蜀以前赫濯殾靈天德紀元初一綂
歷考帝王世祀丁趙陳黎而後焜煌彞典萬春建國閌千秋

Hồng duy Nam Việt triệu cơ, Lạc Hùng Ngô Thục dĩ tiền, hách trạc tuấn linh, Thiên Đức kỷ nguyên sơ nhất thống
Lịch khảo đế vương thế tự, Đinh Triệu Trần Lê nhi hậu, hỗn hoàng di điển, Vạn Xuân kiến quốc kháng thiên thu.


Câu đối này có những thông tin thật khó hiểu:
- Vế đối đầu nói tới “Nam Việt” mở nền móng nhưng cùng với Lạc Hùng lại còn kể cả Ngô Thục. Ngô, Thục nào của nước Nam Việt đây?
- Vế thứ hai sau khi đã tra cứu “lịch đế vương thế tự” một cách đầy đủ, thay vì kể “Triệu, Đinh, Lý, Trần” như trong Bình Ngô đại cáo, thì ở đây lại nêu một trật tự khác: “Đinh, Triệu, Trần, Lê”. Nhà Đinh nào trước nhà Triệu đây?
- Cuối cùng, Lý Nam Đế theo câu đối này là triều đại mà trước đó (“dĩ tiền”) là Ngô Thục, còn sau đó (“nhi hậu”) là Đinh Triệu. Theo kiến thức lịch sử thông thường Lý Nam Đế chống giặc Lương vào thế kỷ thứ 6 thì không thể nào sắp xếp cho ổn thỏa thứ tự trong câu đối trên.

Để hiểu câu đối này cần đọc từng chữ, từ đầu:
- “Hồng duy”, dễ bị hiểu là “riêng xét”. Nhưng so vào câu đối, vì đối lại với chữ “lịch khảo” ở vế dưới nên chữ “duy” ở đây phải là động từ, trong từ “tư duy”, chứ không phải là “duy nhất”. “Hồng duy” nghĩa là phải tư duy cho rộng. Một câu mở đầu rất hay. Muốn hiểu lịch sử các đế vương Nam Việt xưa trước hết phải biết nghĩ cho rộng, cho sâu.

- “Sơ nhất thống”, có người đọc thành “thống nhất sơ sơ”, thật buồn cười. Nghĩa ở đây phải là kỷ nguyên Thiên Đức của Lý Nam Đế đã thống nhất đất nước Nam Việt thủa sơ khai ban đầu. Vì là thời quốc sơ, thông tin chưa thực rõ ràng nên những triều đại này mới “hóa thần hóa thánh” (“tuấn linh”). Cụm từ “sơ nhất thống” cho thấy rõ khởi nghĩa của Lý Bôn đã diễn ra vào thời điểm rất sớm và đã lập được kỳ tích, thống nhất được giang sơn.

Với cách “hồng duy” nghĩ rộng như vậy thì có thể lý giải được câu đối trên:
- Nhà Thục thời lập quốc của Nam Việt là Thục An Dương Vương. Điều này còn ghi trong chính sử phần “ngoại kỷ” = quốc sơ.

- Nhà Ngô: Ca dao Việt có câu:

Vua Ngô ba sáu tấn vàng

Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì.
Vua Ngô hay vua phương Bắc mà giàu có mà lại chết “bất đắc kỳ tử” thì có thể có mấy vị:
- Hạ Kiệt: ông này từ thời đồ đá, chắc là sẽ không có nhiều vàng như vậy.
- Trụ Vương: vị vua nổi tiếng xa xỉ, chết trong ngọn lửa thiêu chính cung điện của mình.
- Tần Thủy Hoàng: đại đế thống nhất Trung Hoa, chết dọc đường đi "công tác", bị bỏ chung với cá muối mà mang về.
- Tùy Dạng Đế: cũng cực kỳ xa xỉ, nhưng cái chết tương đối nhẹ nhàng.

Trong số trên có Ân Trụ Vương và Tần Thủy Hoàng là có thể hợp với nhà Ngô trong câu đối. Nhiều khả năng nhất là nhà Tần đã được sử Việt gọi là Ngô, là thời kỳ trước khi Thục An Dương Vương bị diệt.

Một dẫn chứng khác từ Thiên Nam ngữ lục, khi nói về âm mưu của Triệu Đà:
Bắc Nam hai nước thư giao

Sức nào chống Thục, sức nào chống Ngô.
Khi Triệu Đà còn chưa tiếp vị của Nhâm Hiêu thì rõ ràng “Ngô” ở đây là nhà Tần, “Thục” là Âu Lạc của An Dương Vương.

Như vậy nghĩa của vế đầu câu đối đã sáng tỏ: thời mở nước của Nam Việt trước kia từ Lạc Hùng tới Tần Thục, tiếp là kỷ nguyên Thiên Đức đã thống nhất quốc sơ. Với sử quan "hồng duy" rộng lớn, tác giả câu đối ở đây đã coi nhà Tần cũng là một triều đại lập quốc của người Việt.

- Nhà Đinh: trước nhà Triệu thì chỉ có thể là … Trưng Vương, chứ không phải Đinh Bộ Lĩnh. Hoàng Đinh là tên nước của Hai Bà Trưng. Xin xem thêm các câu liên quan.

- Xác định như vậy thì nhà Triệu ở đây có thể là của Bà Triệu hoặc Triệu Quang Phục.

Thông tin của vế đối thứ hai rõ ràng hơn, có thể “khảo cứu lịch các triều đại” và vẫn còn được chép trong sử sách (“di điển”).


Một khoảnh khắc hiếm khi đền Giang Xá mở cửa
Chỗ khó giải nhất của câu đối là Lý Nam Đế ở vào thời điểm: trước Trưng nữ vương, sau Tần Thục. Vậy khởi nghĩa Lý Nam Đế không thể gì khác chính là khởi nghĩa chống Tần của … Bái công Lưu Bang, hồi “quốc sơ” và đã thống nhất đất Việt, mở nên triều Hiếu huy hoàng, rộng lớn. Đúng là “Thiên Đức” và “Vạn Xuân”.

Dịch câu đối:
Rộng suy Nam Việt mở nền, Lạc Hùng Ngô Thục thủa đầu, loáng bóng trúc thần, Thiên Đức kỷ nguyên ban sơ thống nhất.
Xét lịch Đế Vương thứ tự, Đinh Triệu Trần Lê sau đó, chói vàng sách miếu, Vạn Xuân dựng nước sừng sững ngàn thu.



Trống hội Vạn Xuân ở Giang Xá

Chữ “hồng duy” vẫn còn. Lời nhắc nhở của người xưa, muốn biết sử cũ không thể hạn chế tư duy, tầm nhìn của mình. Mở mắt mới thấy sử Việt bao la. Cái ước muốn đất nước “vạn xuân” của Lý Bôn – Lưu Bang có được vững vàng hay không cũng từ nhận thức “hồng duy” này.
 

Khu Linh người nước Nam ta .



Thiên Nam ngữ lục đoạn nói về khởi nghĩa của Khu Liên như sau:



Khu Linh người nước Nam ta
Bình sinh tập dụng can qua một mình
Bèn vào Tượng quận dấy binh
Toan làm sự cả công danh ở đời.

Trong phần chú dẫn viết: Việt sử cương mục chép:
"Tháng tư mùa hạ (137), người Man ở Tượng Lâm (Nhật Nam) là Khu Liên làm phản."

Thiên Nam ngữ lục cho thông tin rất rõ ràng:
- Khu Linh hay Khu Liên là "người nước Nam ta". Khu Liên chẳng phải người Chăm ở tận đâu kéo về.
- Nơi Khu Liên khởi nghĩa là "Tượng quận". Quận chứ không phải huyện Tượng Lâm.

Câu chú của Việt sử cương mục cũng cho thấy, chẳng hề có chữ "huyện" nào hết. Tượng Lâm (Nhật Nam) nghĩa là: Tượng Lâm là quận Nhật Nam.

Như vậy Tượng Lâm gồm phần Tượng là Tượng Quận và phần Lâm là Nhật Nam. Tượng Quận thời Tần ở khoảng Quí Châu - Quảng Tây - Vân Nam. Nhật Nam như vậy ắt hẳn là vùng Quảng Tây. Thời Tam quốc vùng này là phạm vi của nhà Thục. Điều này cho thấy khởi nghĩa Khu Liên cuối thời Đông Hán chính là khởi nghĩa của anh em Lưu Bị - Lưu Biểu. Lâm Ấp chỉ là tên gọi khác của nhà Thục khi Lưu Bị chưa tiến lên phía Bắc.

Nguồn Laclong

Điểu , Cầm , Chim .


Sử viết : Tần chiếm đất Lục Lương hay Lục Dương chia thành 3 quận : Nam hải Quế lâm và Tượng , Sử thuyết Hùng việt chỉnh sửa thành : Tần chiếm đất Văn lang hay Văn vương tức đất của thiên tử Châu chia thành 3 quận : Tam xuyên hay Long xuyên – Quế lâm và Tượng trong đó Tam xuyên hay Long xuyên cũng gọi là Long Xoang là đất đế đô của nhà Đông Châu .




Theo Dịch học thì Tam = Long chỉ phương Đông .

Xuyên thực ra là Xoang – Choang đồng nghĩa với Châu là sáng láng .

Tam xuyên hay Long Xoang là cách gọi thay thế cho tên Đông Châu mà thôi .

Nam hải không nằm trong đất của thiên tử nhà Châu đó là lãnh thổ nước Tống đất vua Châu ban cho ông Cơ tử dành thờ phụng các vua nhà Thương và Thương Ân .

Để lừa thiên hạ Hán sử đem Nam hải thế chỗ Tam xuyên ...biến Tam xuyên thành huyện Long xuyên của quận Nam hải , xóa đi dấu tích kinh đô Lạc ấp ở phía đông của nhà Châu . (để tránh dẫn chứng rườm rà cho bài viết mời các bạn xem những bài viết khác trên cùng web-blog)




Sang thời Hiếu của Lý Bôn – Lưu Bang đất Văn Lang của nhà Châu cũ được chia thành các quận : Giao chỉ – Nhất nam – Cửu chân và Ích châu .

Khi đất nước chịu sự thống trị của Đông hãn quốc thì vùng đất giữa quận Cửu chân – (Qúy châu) và Nhất nam – (Quảng tây) là đất Tượng – Lâm .

Phải rạch ròi như thế vì đang có âm mưu ...dựa vào những thông tin tư liệu về đất Tượng – Lâm cố gán ghép Tượng quận thời Tần là đất Quảng tây và bắc Việt nam ngày nay cốt củng cố cho việc phi tang quận Tam xuyên hay Long xuyên ở Bắc Việt và nam Quảng Tây vì Sử ký của Tư mã Thiên ghi rõ ...Tần lấy đất nhà Châu lập quận Tam Xuyên ...

Lý thiên Bảo – Lưu Biểu lập nước Dạ lang hay Đoài lang ở Cửu chân , người kế vị là Lý Bí – Lưu Bị mở rộng đất nước về Vân nam - Ích châu xưa , Sử Trung quốc gọi nước của Lưu Bị là Thục nghĩa là nước phía tây , đối chiếu với dòng tư liệu lịch sử khác khám phá Lý Bí – Lưu Bị chính là Khu Liên – Lý khu Kiên vua nước Lâm Ấp ở Tượng Lâm – Nhất nam ... thực ra không có nước nào tên là Lâm ấp , Lâm ấp tức đại ấp Lâm tức kinh đô nước Nam ,lâm↔lam↔nam , tên nước do Lý khu Kiên lập là nước NAM hay Nam quốc có kinh đô là Lâm ấp .

Lý Bôn – Lưu Bang người đất Phong ( Phong châu – bắc Việt nam ?), nổi lên ở đất Bái (đất người Bạch -Vân nam ?) lên ngôi hoàng đế ở Tràng An sử Việt gọi là Lý Nam đế ; Lý Bí - Lý Phật tử của cuộc nổi dậy Tượng lâm được gọi là hậu Lý nam đế theo nghĩa là sự nối tiếp , sự việc này cũng đúng như sử Trung hoa : Lý Bí – Lưu Bị là dòng dõi vua Tây Hán (Hiếu ?) nên còn gọi là Lưu hoàng thúc và nước Thục được giới sử học xem như là triều tiếp nối nhà Tây Hán (Hiếu) thường gọi là Thục – Hán .

Thiên Nam ngữ lục đoạn nói về khởi nghĩa của Khu Liên như sau:




Khu Linh người nước Nam ta
Bình sinh tập dụng can qua một mình
Bèn vào Tượng quận dấy binh
Toan làm sự cả công danh ở đời.
Trong phần chú dẫn viết: Việt sử cương mục chép:
"Tháng tư mùa hạ (137
?), người Man ở Tượng Lâm (Nhật Nam) là Khu Liên làm phản.".
Đoạn trích bài viết của tác gỉa Bách Việt trùng cửu trên cho thấy sự lúng túng của giới sử học Việt , không phân biệt và định vị được đâu là Tượng quận đâu là Tượng Lâm khiến sự việc trở nên rối rắm , chính sự rối rắm này đã dẫn đến cái nhìn sai lầm về nước ...Lâm ấp , ...Khu Linh người nước NAM ta ...rõ như ban ngày vậy mà lâu nay cứ coi ...Lâm ấp và người Chăm là ‘ngoại quốc’ có người còn vô tình tiếp tay cho kẻ ác tâm khoác lên đầu lên cổ dân tộc mình cái gông tội lỗi nặng nề vì đã ...chiếm nước và hủy diệt 1 nền văn minh sáng chói của người khác bằng những trường ca bi ai thống thiết ...khóc giống Hời .

Khi Tấn quốc đánh diệt nước Thục năm 263 dòng dõi Lý khu Kiên tức Lý Bí lui về vùng Bình Trị Thiên ngày nay , cùng thời này vùng đất đông bắc Việt do Sĩ Huy cai quản , sử Việt lầm lẫn gọi là Sĩ Nhiếp (Sử thuyết HÙNG Việt cho Sĩ Nhiếp chỉ là ‘chức hiệu’ do người đời đặt là viết tắt của ‘kẻ sĩ nhiếp chính’ dùng chỉ những nhân vật thời Hiếu (Tây Hán) mạt và Vương Mãng là Đặng Nhượng – Tích quang ). Ngô chủ Tôn Quyền đã đánh diệt anh em Sĩ Huy và sáp nhập đất Đông bắc Việt vào nước Ngô .

Năm 260 khi nước Thục đô ở Tứ Xuyên (gọi theo sử Trung quốc) suy yếu lắm rồi Tướng Lục Dận của nước Ngô đã đánh chiếm đất Tượng Lâm ở Qúy châu – Quảng tây mở rộng lãnh thổ nước Ngô sang phía tây .

Năm 263 nước Tấn chiếm được kinh đô nước Thục , Tây Thục tiêu vong trong con mắt của sử gia Trung quốc nhưng với sử Việt thì nước NAM – Lâm ấp vẫn còn .

Năm 270 Phạm Hùng cháu ngoại của Khu Liên lên kế vị thì lãnh thổ nước Nam ( thường gọi lầm là Lâm ấp) chỉ còn vùng Bình trị Thiên và duyên hải miền trung Việt nam ngày nay .

Phạm Hùng , dùng phép phiên thiết thì thấy rất có thể không có vua nào họ Phạm tên Hùng :

Phạm Hùng thiết Phùng phải chăng là chỉ 1 ông vua tộc Việt họ Phùng ? .

Phải chăng Vua Lâm ấp ... Họ Phùng này chính là tiền nhân của Phùng Hưng Bố cái đại vương thời sau ?

Dưới thời Phạm Hùng, lãnh thổ Lâm Ấp được trải từ thành Khu Túc cạnh sông Gianh (Quảng bình) ở phía bắc tới Khánh Hòa (Kauthara) phía nam. (Rất có thể Gianh chỉ là biến âm của Ranh chỉ ranh giới ?)

Phạm Hùng mất con là Phạm Dật kế vị , Năm 284 Phạm Dật gởi một sứ bộ sang nước Tấn cầu hòa và nước Nam – Lâm ấp được tạm sống yên ổn vài chục năm trong đời vua Phạm Dật .

Phạm Dật qua đời năm 336, một tể tướng cướp ngôi vua tự xưng Phạm Văn (Fan Wen). Phạm Văn không phải là người Chăm mà là một người gốc Hoa quê ở Dương Châu,

Dưới thời Phạm Văn, kỹ thuật luyện sắt (rèn kiếm, đúc lao) đạt đến tột đỉnh. Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ và xa rời ‘thế giới’ Trung hoa , bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm cũng có vào thời này . (Trung quốc gọi là Hồ tự người Việt gọi là Hoả tự ?)

Phạm Văn đánh thắng hai nước Đại Kỳ Giới và Tiểu Kỳ Giới mở rộng sang phía tây đem vùng tây nguyên Việt nam ngày nay nhập vào bản đồ nước NAM - Lâm ấp. (cũng có ý kiến cho đây là hai vương quốc trên đất Lào ngày nay),

Năm 340, Phạm Văn xin nhà Đông Tấn cho sát nhập một phần Thanh Hóa vào lãnh thổ Lâm Ấp nhưng không được . Phạm Văn liền xua quân tiến công giết thứ sử Hạ Hầu Lâm, , cho xây lại thành Khu Túc (cạnh sông Gianh) phòng giữ và lấy mũi Hoành Sơn (nam Thanh Hóa) làm biên giới phía bắc nước NAM - Lâm ấp .

Năm 433, đời Tống Văn Đế, niên hiệu Nguyên Gia thứ 10, vua Lâm Ấp kế tiếp là Phạm Dương Mại II cử sứ bộ sang đòi lại đất Giao châu , nhà Lưu Tống không thuận quân Lâm ấp hợp với quân Phù nam tiến đánh Giao Châu mở ra cuộc chiến kéo dài , năm 446 niên hiệu Nguyên Gia thứ 23, Tống Văn Đế cử đại binh đánh Lâm Ấp, hạ được thành Khu Túc rồi tiến vào kinh đô Trà Kiệu đốt phá chém giết, thu vét vàng bạc châu báu không kể xiết . Vì thất bại này Lâm Ấp suy yếu phải nhận làm phiên thuộc của Tống (Lưu).
Nhà Tề thay nhà Lưu Tống, năm 492, niên hiệu Vĩnh Ninh thứ 10, phong cho vua Lâm Ấp Phạm Chư Nông tước vị An Nam Tướng quân Lâm Ấp vương như thế Tên An Nam đã xuất hiện từ thời này không phải đợi đến đời Đường mới có trong sử sách
(An nam đô hộ phủ) .

Năm 559 nhà Bắc Châu phục hưng Trung hoa chấm dứt ách thống trị của nòi Hung - Hãn .

Để thu giang sơn về 1 mối , Năm 605, Tùy Dượng Đế nhà Việt Tủy – Sở sai Lưu Phương hợp binh thủy bộ tiến chiếm Lâm ấp , quân Tùy hạ thành Khu Túc rồi vào quốc đô Trà Kiệu đánh đuổi vua Lâm Ấp là Phạm Phạn Chí chạy vào Panduranga – Phan rang .
Nhà Tùy chia đất mới bình định làm 3 quận là Tỵ Cảnh (Quảng Bình), Hải Âm (Quảng Trị, Thừa Thiên), và Lâm Ấp (Quảng Nam, Bình Định).


Nhà Đường lên thay, Lâm ấp trở thành nước phiên thuộc của Đại Đường – Việt Thường .
Từ năm 758, đời Đường Túc Tông, niên hiệu Càn Nguyên năm đầu, sử Trung quốc gọi Lâm Ấp là Hoàn Vương.


Năm 875, Lâm Ấp thiên đô về Đồng Dương (Indrapura)- Quảng Nam. Bắt đầu từ đây, danh xưng Chiêm Thành (Campapura) thay thế cho Lâm Ấp .

Nhà Đường gọi người Di lão ở Qúy châu – Quảng Tây – Vân nam là Điểu Man , người Choang là Điểu Hử .

Thực ra Điểu Man là Điểu Mun – đen chỉ hướng nam xưa nay là Bắc .

Điểu Hử chính xác là Điểu Hoả nghĩa là người Điểu hướng Xích đạo .

Qúy châu –Quảng tây tức vùng đất gốc Tượng Lâm của nước NAM - Lâm ấp được nhà Đường gọi là đất Kiềm , Kiềm chỉ là biến âm của Cầm tiếng Việt là loài chim .

Tộc Người thì gọi là Điểu , đất thì gọi là Cầm...

Phải chăng ĐIỂU thông nghĩa với CẦM – KIỀM đã đẻ ra quốc hiệu CHIM _ CHĂM ở thời nhà Đường .

Nhìn hình khắc trên mặt Trống đồng ...phải chăng Chim và Nai là tôtem của 2 cộng đồng bắc và nam dòng họ Hùng ? .

Di lão còn gọi là LA hay Liêu tử nay gọi chung là KADAI chính là con cháu của Hữu Hổ thị đã bị ông Khải đánh đuổi phải di cư từ miền bắc Trung Việt ngày nay đến lập quốc ở vùng Kỳ sơn –Kỳ Chu – Cùi Chu – Qúy Châu ? .

Bản đồ Việt thời cận đại đất đai Chiêm quốc cũ gọi là đất CAM trải từ Cam môn thuộc Quảng bình tới Cam ranh tỉnh Khánh hòa ngày nay , phải chăng Cam là biến âm của Cầm – Kiềm và người Chiêm - Chăm chính là người CHIM tiếng Việt ? .

Xét như thế Trong con mắt vua quan nhà Đường – Việt Thường rõ ràng người Chăm – Chim và người La – Liêu tử ở quý châu – Vân nam là 1dòng giống và nước Chiêm thành chính là hậu thân của Tây Thục – nước NAM ở thời Tam quốc hay Lưỡng quốc kháng Ngụy (giặc dã - giả) xa xưa .

Sự thực đang lộ dần trong khi chờ sự thật lịch sử phơi bày toàn bộ người họ Hùng không được quên câu... Khu Linh người nước NAM ta ...
 

Lịch sử Champa .Thời kỳ xác định bản thể

Vương quốc Chiêm Thành (Champa) cổ cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn đối với người Việt Nam. Vương quốc này ở đâu, xuất hiện từ thời nào, phát triển ra sao và tại sao biến mất ? Không sử sách Việt Nam nào nhắc đến. Đọc lại sử xưa, những nhân vật lịch sử Chiêm Thành, với những tên phiên âm Hán hóa, thường được nhắc tới một cách mơ hồ, đôi khi với những lời lẽ xúc phạm, từ đó sinh ra hiểu lầm rồi hiểu sai dẫn đến tâm lý phân biệt đối xử hay khinh thường, không thông cảm lẫn nhau.

Đây là thiếu sót lớn trong quan hệ giữa người Việt và người Việt với nhau. Tình trạng này cần sớm chấm dứt vì cộng đồng người Chăm ngày nay là thành tố bất khả phân của dân tộc Việt Nam. Quá khứ của người Chăm cũng là quá khứ chung của người Việt Nam. Tìm hiểu lịch sử vương quốc Chiêm Thành xưa, chính vì thế, không những là một bắt buộc lịch sử mà còn là một biểu lộ tình cảm để hàn gắn những tai họa mà cộng đồng người Việt Nam nói chung đã gây ra cho những dân tộc anh em trước khi cùng nhau bắt tay xây dựng lại một đất nước chung.

Quan niệm về đất đai, lãnh thổ và tổ chức chính trị


Trước khi đi sâu vào phần tìm hiểu lịch sử vương quốc Chiêm Thành xưa, tưởng cũng nên duyệt lại một số quan niệm về đất đai và lãnh thổ của người Kinh và người Chăm. Có nắm vững yếu tố này, chúng ta sẽ dễ dàng theo dõi những chuyển biến lịch sử tiếp theo và kết quả tất yếu của nó. Khuyết điểm của những nhà viết sử hay nghiên cứu dân tộc học là thường dựa trên những quan điểm văn hóa và tình cảm của mình để phê phán các dân tộc khác, hiểu lầm và ngộ nhận là không tránh khỏi.

Đất đai và lãnh thổ tuy là những giá trị cụ thể nhưng quan điểm của người Kinh và người Chăm rất khác nhau. Đối với người Kinh, đất đai và lãnh thổ vừa là một giá trị vật chất vừa là một biểu tượng tình cảm, trong khi đối với người Chăm đó là một giá trị tâm linh và là một biểu tượng thần quyền.

Qua những đợt di dân liên tục từ hơn một ngàn năm qua, lãnh thổ của người Kinh không ngừng mở rộng theo thời gian và cộng đồng người Kinh ngày nay đã có mặt tại khắp nơi trên thế giới. Người Kinh tuy rất quí đất đai nhưng đó chỉ là một tài sản cần phải bảo vệ, một kỷ niệm cần phải giữ gìn. Rất ít ai chịu giam mình nơi chôn nhau cắt rốn nếu điều kiện sinh sống nơi đó khó khăn. Nơi nào có thể an cư lạc nghiệp được, nơi đó trở thành quê hương, nơi nào sinh sống khó khăn thì bỏ đi tìm nơi khác. Và khi ra đi, người Kinh mang theo cả bàn thờ tổ tiên, gia phả và tín ngưỡng đi theo, do đó không có vấn đề mất gốc hay mất cội nguồn.

Suy cho cùng, người Kinh vừa là một dân tộc du mục vừa là một dân tộc phù sa, bởi vì, một mặt, lịch sử dân tộc Kinh là một lịch sử di dân thường trực và cuộc di dân này đến nay chưa chấm dứt, mặt khác, người Kinh chỉ gắn bó với những vùng đất thấp, đất đồng bằng cạnh những dòng sông hay trục lộ giao thông, ít ai chịu gắn bó đời mình với rừng núi hay biển cả bao la.

Trên phạm vi lớn hơn là lãnh thổ. Lãnh thổ bao gồm cả đất đai, bầu trời và vùng nước, có lằn ranh nhất định và thuộc chủ quyền một quốc gia. Đối với người Kinh, lãnh thổ là một phạm trù ảo, không cụ thể, cha chung không ai tiếc. Lãnh thổ rộng hẹp ra sao là vấn đề trách nhiệm của những người lãnh đạo quốc gia, không ảnh hưởng gì đến đời sống thường ngày của người dân.

Người Chăm thì ngược lại, đất đai là một vật thể thiêng liêng không thể sang nhượng và chối bỏ. Từ ngàn xưa cha ông đã ở đây thì con cháu đời sau phải ở đó, không ai tự quyền rời bỏ quê cha đất tổ định cư nơi khác. Rời bỏ quê cha đất tổ là từ bỏ dòng tộc, từ bỏ thần linh. Chính vì thế, trong suốt dòng lịch sử đương đầu với người Kinh, cộng đồng người Chăm chấp nhận mọi hy sinh và gian khổ để giữ đất và bám đất, cho dù quê hương không còn hay bị tước mất. Tất cả những lễ lạc trong triều chính và ngoài dân gian đều nhằm vinh danh các vị thần cai quản đất đai, vì đất là nguồn sống và cũng là nơi ngự trị của các vị thần bảo vệ đất, che chở gia đình và đồng tộc. Nếu vì một lý do nào đó ngoài ý muốn một người Chăm phải rời bỏ quê hương đi nơi khác lập nghiệp, sinh hoạt tâm linh của người đó luôn gắn liền với nơi sinh quán cũ, vì không ai được quyền mang bàn thờ tổ tiên và thần linh đi theo, con người lệ thuộc thần linh chứ không ngược lại. Hơn nữa nếu phải ly hương, người đó cũng không thể đi ra ngoài lãnh thổ đã được thần linh che chỡ, nghĩa là chỉ giới hạn trong vùng đất của đồng tộc mà thôi. Đó là lý do giải thích tại sao tại người Chăm không di cư ra khỏi địa bàn cư trú của họ và tại nhiều nơi, nhất là ở Bình Thuận, người Chăm định cư tại một làng cách xa nơi sinh quán cũ cả trăm cây số nhưng vẫn muốn lệ thuộc về hành chánh và nghi lễ tại làng cũ. Đạo Hồi khi du nhập vào đây cũng phải thích nghi với tâm lý tôn thờ thần linh của người Chăm để được chấp nhận và đã biến cải thành đạo Bani. Tất cả chỉ vì người phụ trách lễ nghi và sổ bạ hành chánh địa phương là các thầy Paseh, Tapah (nếu là giáo dân đạo Bà La Môn) và các thầy Char, Po Adhya, Po Bac (nếu là giáo dân đạo Bani). Đây là một khó khăn về quản trị hành chánh mà các chính quyền người Kinh không hiểu nổi và muốn xóa bỏ, nhiều tranh chấp đáng tiếc đã xảy ra.

Nhiều người sẽ hỏi dân số vương quốc Chiêm Thành xưa bây giờ ở đâu ? Không lẽ đã bị tiêu diệt hết sao ? Con số 100.000 người Chăm tại Bình Thuận và Châu Đốc có phản ánh đúng sự thật không ?

Câu trả lời là không và dân chúng gốc Chăm vẫn còn nguyên vẹn. Người Chăm đồng bằng không đi đâu cả, họ đã ở lại trên lãnh thổ cũ tại miền Trung và với thời gian đã trở thành công dân Việt Nam một cách trọn vẹn. Có thể nói không một người Việt Nam nào sinh sống từ lâu đời tại miền Trung nào mà không mang ít nhiều dòng máu Champa trong người. Điều này cũng rất dễ khám phá, ít nhất là về hình dáng : da ngăm đen, vai ngang, mặt vuông, tóc dợn sóng, vòm mắt sâu, mắt bầu dục hai mí, mũi cao, môi dầy, miệng kín. Cũng không phải vô tình mà cách phát âm của người miền Trung khác hẳn phần còn lại của đất nước, với nhiều âm sắc thấp của người Champa. Đó là chưa kể những danh từ có nguồn gốc Champa. Cũng không phải tình cờ mà các điệu múa hát của người Chăm trở thành những điệu múa hát trong cung đình và ngoài dân gian thời Nguyễn. Nêu ra một vài trường hợp cụ thể trên chỉ để chứng minh một điều : dân cư vương quốc Champa cũ đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam. Nhắc lại quá khứ của người Chăm cũng là nhắc lại quá khứ của cộng đồng người Việt tại miền Trung nói chung.

Về chính trị, vương quốc Champa được tổ chức theo định chế liên bang. Trước khi bị xóa tên, vương quốc Chiêm Thành là một kết hợp của nhiều tiểu vương quốc, từ đèo Ngang (Quảng Bình) đến mũi Kê Gà (Bình Thuận). Mỗi tiểu vương cai trị một lãnh thổ riêng, với một dân số nhất định, sinh hoạt độc lập với các tiểu vương khác và không can thiệp vào nội bộ của nhau. Một cách không chính xác, vương quốc Chiêm Thành cũ (Campapura) có ít nhất năm tiểu vương quốc : Indrapura (Bình Trị Thiên), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Nghĩa Bình), Kauthara (Phú Khánh) và Panduranga (Bình Thuận). Có thể thêm tiểu vương quốc Aryaru (Phú Yên) là sáu, nhưng sự hiện diện của tiểu vương quốc này trong lịch sử Chiêm Thành không rõ ràng.

Trong mỗi tiểu vương quốc cũng có sự phân chia quyền hành giữa các lãnh chúa địa phương. Chính sách địa phương tản quyền này đã được triều đình Việt Nam công nhận năm 1471, khi thành Đồ Bàn, kinh đô vương quốc Chiêm Thành, vừa bị đánh chiếm : đất Quảng Nam được chia thành nhiều lãnh địa khác nhau và giao cho những lãnh chúa Champa địa phương cai quản. Vương quyền trung ương Chiêm Thành chỉ giữ vai trò thần quyền, gìn giữ sự thống nhất và sự vẹn toàn lãnh thổ mà thôi, những sinh hoạt khác đều do các tiểu vương quốc địa phương đảm nhiệm. Khi có nhu cầu hay gặp nguy biến, triều đình trung ương nhân danh thần linh bảo vệ vương quốc kêu gọi các tiểu vương địa phương đóng góp nhân tài, vật lực xây dựng đền đài, chuẩn bị chinh chiến hay triều cống các thế lực lớn mạnh hơn. Vị thần bao vệ vương quốc Chiêm Thành được biết đến nhiều nhất là nữ thần Yan Po Nagar (Bà Mẹ Đất Nước hay Thiên Y Thánh Mẫu), đền thờ đặt tại Xóm Bóng, Nha Trang.

Về biên giới, lằn ranh phân chia giữa các tiểu vương quốc và vương quốc Chiêm Thành cũ với các thế lực chính trị đương thời là một biên giới thần quyền, không ai được quyền vượt qua và cũng không ai có quyền xâm phạm. Vương triều Chiêm Thành không có tham vọng đất đai, họ chỉ tập trung phát triển và bảo vệ những đất đai thuộc quyền sở hữu mà thôi. Những chuyển biến lịch sử sau đây chứng minh điều đó.

Tượng Lâm : địa bàn xác định bản thể

Rất khó xác định mốc thời gian để biết vương quốc cổ Chiêm Thành đã được hình thành từ hồi nào. Phần lớn những nhà khảo cổ và sử học đều đồng ý là vương quốc này xuất hiện vào đầu công nguyên, tức là thời gian người Chăm bắt đầu có chữ viết, chữ Phạn cổ. Nói như vậy không có nghĩa là trước đó người Chăm không có lãnh thổ, không có tổ chức chính quyền và không có lịch sử riêng. Bản thể Chiêm Thành có trước danh xưng. Tổ chức chính quyền của họ có thể đã thành hình cùng lúc với sự xuất hiện của các Lạc hầu, Lạc tướng trên địa bàn lưu vực sông Hồng và sông Mã của nước Văn Lang, thời Hùng Vương.

Những tài liệu có dấu vết thời gian rõ ràng (sử liệu cổ Trung Hoa và các bia ký) ghi nhận vương quốc cổ Chiêm Thành chính thức xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 2, năm 192 khi quốc gia Lâm Ấp ra đời. Thật ra vương quốc này trước đó có rất nhiều tên : Hồ Tôn Tinh, Tượng Lâm. Sau này được đồng hóa với các tên Lâm Ấp, Hoàn Vương Quốc, Chiêm Thành (Campapura), Phan Rang (Panduranga), cuối cùng là trấn Thuận Thành (Pradara). Những tên gốc Phạn vừa kể đều do người Trung Hoa hay người Việt đặt ra, dựa theo cách phát âm của người địa phương mà gọi.

Về nước Hồ Tôn Tinh, sách Lĩnh Nam Chích Quái viết: "Xưa kia bên ngoài lãnh thổ Âu Lạc có một vương quốc mang tên Diệu Nghiêm [có thể là Phù Nam]. Vị vua của vương quốc này có tên là Tràng Minh, hiệu Quỷ Vương [Dasanana] có mười đầu. Phía bắc vương quốc này có một vương quốc khác tên Hồ Tôn Tinh [quốc gia của người khỉ] do vua Dasaratha cai trị. Hoàng tử Chung Tư [Rama], người kế vị vua Dasaratha, có một người vợ là công chúa Bạch Tinh [Sita]. Công chúa Bạch Tinh có một sắc đẹp tuyệt trần không giống người phàm. Quỷ Vương, mê hồn trước sắc đẹp của Bạch Tinh, mang binh sang đánh nước Hồ Tôn Tinh cướp công chúa về nước. Hoàng tử Chung Tư, quá căm giận, dẫn đầu một đoàn hầu binh xe núi băng biển tiến vào vương quốc Diệu Nghiêm, giết Quỷ Vương, đưa công chúa Bạch Tinh về".

Theo nhận xét của học giả Huber (La Légende du Ramayana en Annam, Etudes indochinoises), Hồ Tôn Tinh có thể là vương quốc Champa cổ. Những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ thời đó đều có sự tích giống nhau, tại Indonésia trong các đền thờ Bà La Môn lớn đều khắc chuyện thần thoại này trên tường đá. Chuyện Quỷ Vương có mười đầu chỉ là cách mô tả thô thiển ngai vàng của các vị vua trong thần thoại Ấn Độ và Phù Nam thường có hình con rắn hổ mang [naja] mười đầu.

Về đất Tượng Lâm, các sử liệu Trung Hoa xác quyết đó là phần đất ở vùng cực nam quận Nhật Nam xưa kia, trực thuộc quyền quan trị hành chánh của Giao Châu thời Bắc thuộc, ngày nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (có tài liệu ghi đến cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Những nhà khảo cổ phương Tây cho rằng Tượng Lâm có thể là phần đất chạy dọc theo bờ biển, từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân, nằm trong lãnh thổ các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, gọi chung là Thanh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên. Một số học giả người Chăm xác nhận lãnh thổ Tượng Lâm bao gồm : Indrapura (Bình Trị Thiên), Amavarati (Quảng Nam) và Vijaya (Nghĩa Bình), sau này gọi chung là Bắc Chiêm Thành.

Như vậy, về văn hóa, Tượng Lâm là nơi tập cư của nhiều nhóm người xuất thân từ nhiều nền văn hóa khác nhau, một sự pha trộn văn hóa tự nhiên giữa các giống người vào thời hoang sơ. Đầu tiên là sự pha trộn văn hóa giữa các nhóm Indonésien di cư (văn hóa Indus) và cổ Mã Lai (văn hóa Sa Huỳnh), kế là với nhóm Việt tộc sơ sử (văn hóa Đông Sơn), sau có thêm người Hán (văn hóa Khổng Mạnh) từ phương bắc di cư xuống và người Môn Khmer (văn hóa Óc Eo-Phù Nam) từ tây-nam đi lên. Cuối cùng là những nhóm Malayo-Polynésien (văn hóa Mã Lai - Đa Đảo hay Nam Đảo) từ biển cả tràn vào hồi đầu công nguyên. Nhóm sau cùng, hùng mạnh hơn, đã thu phục hay đồng hóa những nhóm có trước, để chỉ còn yếu tố Nam Đảo độc tôn, và thiết đặt quyền cai trị lâu dài (thế kỷ 1 trước và sau công nguyên). Một số cư dân bản địa, không chấp nhận hay không chịu nổi sự cai trị của nhóm di dân mới tới, đã di tản lên vùng rừng núi sinh sống và trở thành những nhóm sắc tộc thiểu số ngày nay, nhưng không vì vậy mà quan hệ giữa đồng bằng và miền núi bị cắt đứt, dân cư hai vùng đã nương tựa nhau để tồn tại trong suốt thời gian qua.

Sang thế kỷ thứ 2, một số thương nhân Ấn Độ đến vùng đất này buôn bán và luôn tiện phổ biến nền văn minh và văn hóa mà họ thừa hưởng cho thành phần cầm quyền địa phương và một số cơ chế tổ chức quốc giả đã được thành hình từ miền Nam lên miền Bắc. Một tấm bia đá tìm được ở làng Võ Cảnh (Nha Trang) cho biết vị vương cai trị vùng đất phía nam vào thế kỷ thứ 2 tên là Sri Mara, không có phần kế tiếp. Nhiều học giả cho rằng vị vương đó là Khu Liên, người thành lập vương quốc Lâm Ấp ở phía bắc, là sai. Sri Mara chỉ là một tiểu vương Champa ở phía nam (Kauthara), trong khi Khu Liên là một tiểu vương khác ở phía bắc (Indrapura).

Do nằm cạnh lãnh thổ với Trung Quốc, sự hình thành vương quốc Champa phía bắc được biết đến nhiều nhất bởi các nguồn sử liệu Trung Hoa để lại và cũng nhờ đó người ta biết thêm quan hệ giữa người Việt (các Lạc hầu và Lạc tướng) và người Chăm trong thời Bắc thuộc đã rất gắn bó.

Cũng nên biết đất Giao Châu, tức nước Văn Lang cũ là thuộc địa của nhà Đông Hán (-202 đến + 220) từ năm 111 trước công nguyên. Sau khi diệt xong nhà Triệu (Triệu Đà), Hán Vũ Đế chia đất Âu Lạc (Văn Lang cũ) ra làm ba quận : Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Theo Tiền Hán thư, quận Giao Chỉ có 92.440 hộ gồm 746.237 dân, quận Cửu Chân có 35.743 hộ gồm 166.013 dân và quận Nhật Nam có 15.460 hộ gồm 69.485 dân. Quận Nhật Nam có năm huyện : Tây Quyển (Hà Tĩnh), Ty Cảnh hay Ty Ảnh (Quảng Bình), Châu Ngô (Quảng Trị), Lô Dung (Thừa Thiên) và Tượng Lâm (từ Quảng Nam trở xuống).

Không chấp nhận sự cai trị của người Hán, một số dân cư (các nhóm Lạc hầu, Lạc tướng) từ các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam đã hoặc trốn lên các vùng rừng núi phía tây ẩn náu, hoặc chạy xuống các vùng cực nam (huyện Tượng Lâm) hợp lực với những nhóm dân cư bản địa chống lại quân Hán. Huyện Tượng Lâm trở thành địa bàn tranh chấp quyền lực giữa quan quân nhà Hán với các nhóm cư dân bản địa trong suốt thời kỳ Bắc thuộc.

Trương Tôn, thái thú quận Cửu Chân (25-56 trước công nguyên), mô tả dân chúng huyện Tượng Lâm là "những giống người còn man di, chỉ biết bắt cá và săn thú rừng, không biết cày cấy. Bọn người này rất bất trị, thường hay nổi lên chống lại thiên triều, đốt nhà, giết người, cướp của, rồi rút vào rừng sâu mỗi khi quân tiếp viện đến".

Tại Giao Chỉ, năm 42, một Lạc tướng tên Thi Sách nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của quân Hán nhưng thất bại, ông bị quân đô hộ giết chết. Vợ là Trưng Trắc, cùng em là Trưng Nhị, tiếp nối cuộc kháng chiến chống lại nhà Hán. Hai Bà chiêu mộ nghĩa binh gốc Nam Đảo phía nam và Lạc Việt phía bắc, đánh đuổi quân đô hộ ra khỏi xứ sở. Binh lực của Hai Bà chiếm 65 thành trì trong các quận Nhật Nam, Cửu Chân và Giao Chỉ. Hán vương (Quang Vũ Đế) phải cử Phục Ba tướng quân Mã Viện mang đại quân sang đánh dẹp và chiếm lại những phần đất đã mất. Để xác nhận uy quyền của nhà Hán, Mã Viện cho dựng cột đồng khắc sáu chữ : "Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt" [Trụ đồng ngã xuống, Giao Chỉ không còn]. Thông điệp này thật ra là một lời nhắn nhũ đám quan quân địa phương : muốn giữ yên đất Giao Chỉ phải ngăn chặn phiến quân từ phía nam tràn lên, nếu không đất Giao Chỉ sẽ mất. Quan quân địa phương ở đây phải hiểu là quan quân nhà Hán và quan quân Lạc Việt hợp tác với nhà Hán cai trị đất Giao Chỉ (gọi chung là người Kinh, tức người định cư trên đồng bằng).

Lệnh của Phục Ba tướng quân Mã Viện có lẽ đã được đông đảo dân chúng địa phương nghe theo nên, theo truyền thuyết, khi đi ngang trụ đồng mỗi người phải ném một cục đá vào chân trụ đồng để nó luôn được đứng vững. Sự kiện này giải thích sự qua lại ở khu vực biên giới phía nam quận Giao Chỉ của các thương nhân phía bắc rất là tấp nập. Lâu dần trụ đồng bị lấp, ngày nay không còn dấu vết do đó không biết ở đâu. Cũng có thể Mã Viện, sau khi diệt xong hai Bà Trưng, đã thi hành một chính sách cai trị mềm dẽo hơn để lấy lòng dân chúng địa phương, vì không có sử sách nào nhắc đến những cuộc bạo động của người Giao Chỉ chống lại thiên triều trong suốt hơn 50 năm sau đó.

Trụ đồng này là mốc ranh giới đầu tiên giữa nhà Hán và dân cư gốc Nam Đảo. Sự kiện này chứng minh các nhóm dân cư gốc Kinh theo nhà Hán sinh sống trên phần đất phía nam quận Nhật Nam rất sợ những cuộc tiến công của người Nam Đảo phía dưới.
Về địa điểm của trụ đồng, sử cổ Trung Hoa (Hậu Hán Thư và Thuy Kinh chú) ghi chép rằng nó nằm ở phần lãnh thổ cực nam của nhà Hán (quận Nhật Nam) ở huyện Cửu Phong (còn gọi là Cự Phong, tỉnh Quảng Trị ngày nay). Những nguồn sử khác (Tấn thư, Nam Tề thư và Lương thư) cũng xác nhận trụ đồng được dựng lên ở phía nam huyện Tượng Lâm (phía bắc Thừa Thiên). Có sách (Tân Đường thư) ghi trụ đồng được dựng lên ở phía nam Quảng Châu.
Dấu ngoặc về hai Bà Trưng

Nguồn gốc của hai Bà Trưng cũng cần được nghiên cứu lại, vì trong thời kỳ này đất Giao Chỉ chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Sau gần hai thế kỷ bị đô hộ (từ –111 đến +42) chế độ mẫu hệ của người Lạc Việt bị chế độ phụ hệ do người Hán mang tới lấn át, mất dần ảnh hưởng rồi biến mất trong xã hội thượng lưu và giới quí tộc. Người phụ nữ bản địa tuy mất đi vai trò lãnh đạo xã hội, nhường chỗ cho phái nam, nhưng uy quyền của họ vẫn được tôn trọng trong giới dân gian (gia tộc và gia đình).

Trong thời Bắc thuộc, nhà Đông Hán muốn xóa bỏ nền văn hóa Đông Sơn của các nhóm Lạc Việt để chỉ còn văn hóa Trung Hoa, các quan cai trị đã thay thế chế độ mẫu hệ bằng chế độ phụ hệ, khuyên khích định cư, cải đổi lối ăn mặc và canh tác nông nghiệp. Chế độ mẫu hệ của các dòng Lạc hầu, Lạc tướng bị xóa bỏ dần theo từng chính sách cai trị của các quan thái thú từ Bắc triều gởi xuống. Có lẽ phần lớn các nhóm Lạc Việt sinh sống trên lưu vực sông Hồng chấp nhận sự cai trị của người Hán, chỉ một số ít còn lại từ chối sự hội nhập này đã rút lên miền núi sinh sống và trở thành những nhóm người Mường ngày nay (gia đình hai Bà Trưng có lẽ là một trong những nhóm này), hay chạy xuống phía nam kết hợp với các nhóm Nam Đảo, vẫn còn mang nặng yếu tố mẫu hệ.

Sử sách Trung Hoa nói rằng hai Bà Trưng, thuộc dòng "man di", là chị em sinh đôi, quê tại xã Cổ Lai, huyện Châu Diên, quận Phong Châu (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên ngày nay). Trưng Trắc lấy chồng là Thi Sách, người huyện Châu Diên (Vĩnh Yên) và định cư tại quê chồng. Sử sách Việt Nam cho rằng hai Bà thuộc dòng Lạc hầu, Lạc tướng (văn hóa Đông Sơn), quê ở huyện Mê Linh (ngoại thành Hà Nội), từ Ba Vì đến Tam Đảo, đất bản bộ cũ của các vua Hùng, sinh sống bằng nghề nuôi tằm, do đó mới có tên Trứng Chắc (kén dầy) và Trứng Nhị (kén mỏng), sau này đọc trại thành Trưng Trắc và Trưng Nhị.

Thi Sách là một quan lại bản địa thuộc dòng Lạc tướng, hợp tác với quan quân nhà Hán cai trị Châu Diên. Sau khi cưới Trưng Trắc, có thể đã bị ảnh hưởng bởi ý chí độc lập của gia tộc bên vợ, đã chống lại sự cai trị của quan quân nhà Hán. Trong giai đoạn này, có lẽ yếu tố mẫu hệ còn mạnh nên Thi Sách đã không được sự hưởng ứng mạnh mẽ của dân chúng địa phương nên thất bại. Khi Thi Sách bị sát hại, Trưng Trắc đã cùng em là Trưng Nhị nổi lên chống lại quân Hán thì không những đã được dân chúng Giao Chỉ ủng hộ mà cả dân chúng phía nam (Cửu Chân, Nhật Nam, đặc biệt là huyện Tượng Lâm) hưởng ứng và tôn lên làm lãnh tụ. Yếu tố mẫu hệ nổi bật trong đạo quân kháng chiến, trong năm tộc lớn thời đó hai Bà đã kén chọn được 62 vị tướng, trong đó hơn phân nửa (32 người) là phụ nữ như Thánh Thiên công chúa, Man Thiện, Diệu Tiên, bà Lê Chân, Bát Nàn, Hoàng Thiều Hoa, Đào Kỳ, Xuân Nương, Liễu Giáp, Việt Huy, Ả Di, Ả Lã, Ả Tắc, Nàng Đê, v.v... và 21 tì tướng, trong đó gần phân nửa là phụ nữ.

Cũng nên biết chữ "ả, nương, nàng, đào, liễu" là những từ Hán để chỉ người phái nữ. Yếu tố Phật giáo cũng nổi bật trong cách đặt tên người : Man Thiện, Diệu Tiên, Bát Nàn là những pháp danh Phật giáo. Yếu tố vương quyền cũng bắt đầu xuất hiện với những tước vị như người Hán : công chúa Thánh Thiên được phong binh hàm Bình Tây đại nguyên soái, bà Lê Chân giữ chức Tiên Phong nữ tướng quân... Nhưng sự kiện nổi bật nhất là đạo binh của hai Bà Trưng đã biết dùng voi xung trận, một loại quân dụng hoàn toàn xa lạ với người Hán. Đây là bằng chứng cho thấy sự hợp tác giữa các nhóm dân cư sông Hồng và dân cư phía bắc miền Trung rất là mật thiết, vì thuần phục voi là nghề của những người miền núi phía tây-nam Bắc phần.

Những cuộc nổi dậy của người Chăm ở Tượng Lâm

Sau biến cố hai bà Trưng, có lẽ chính sách cai trị của quan quân Đông Hán đã cởi mở hơn nên đất Giao Chỉ trở nên yên bình trong hơn năm thế kỷ. Ngược lại, tình hình chính trị phía nam, huyện Tượng Lâm, luôn giao động.

Mùa hè năm 100, hơn 2.000 dân Tượng Lâm nổi lên phá đồn, đốt thành, giết một số quan quân cai trị. Chính quyền đô hộ phải huy động quân của các quận huyện khác đến dẹp, giết được chủ tướng, cuộc nổi loạn mới tạm yên. Từ đó chính quyền nhà Hán không dám ức hiếp một cách thô bạo dân cư tại đây nhưng đặt vùng đất này dưới quyền cai trị trực tiếp, do một binh trưởng sứ cầm đầu, phòng hờ những cuộc nổi loạn sau này. Để lấy lòng dân cư địa phương, quan quân nhà Hán tổ chức phát chẩn cho dân nghèo, miễn thuế hai năm...

Mục đích của chính sách cai trị trực tiếp này là thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vai lụa...) càng nhiều càng tốt. Thuế và phẩm vật triều cống do những lãnh chúa địa phương (thuần phục nhà Hán) thay mặt thiên triều quyên góp trong dân chúng. Như vậy nhà Hán vừa có thu nhập vừa không hao tốn ngân quỹ, lại duy trì được ảnh hưởng trên vùng đất đó, bù lại lãnh chúa địa phương được thiên triều sắc phong và được bảo vệ khi bị tấn công.

Theo sử liệu cổ của Trung Hoa (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện) ghi lại thì người huyện Tượng Lâm luôn chống đối lại chính sách cai trị của nhà Hán và thường tranh chấp lẫn nhau về quyền cai trị tại vùng đất này. Tượng Lâm ở quá xa chính quốc nên sự cai trị trực tiếp của những quan đô hộ và binh lực thiên triều làm hao tốn công quỹ mà lợi ích chính trị và kinh tế chưa chắc đã cao, do đó đã rất lơ là.

Năm 136, khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống lại sự cai trị của nhà Hán và đánh chiếm huyện Tượng Lâm, họ đã đốt thành và giết trưởng lại (huyện trưởng). Năm sau thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp nhưng thất bại. Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quân Tượng Lâm chống lại và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận, quan quân Đông Hán phải rút lui khỏi huyện Tượng Lâm.

Năm 138, Giả Xương, một quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân đi dẹp những cuộc nổi loạn ở huyện Tượng Lâm. Nhưng sau gần một năm cố gắng, tất cả đều thất bại, không những thế họ còn bị dân quân địa phương bao vây hơn cả năm trời. Từ đó nhà Hán mất tin tưởng ở đám quan quân địa phương và chỉ tin dùng quan quân từ Trung Hoa đưa xuống. Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, Dương, Duyên, Dự (Trung Hoa) xuống đàn áp cuộc nổi dậy. Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, Hán vương sai một tướng khác tên Lý Cố mang viện binh tiếp trợ nhưng Lý Cố viện bảy lý do để hoãn binh. Cuộc tiến quân bị khựng lại và tình hình tạm yên trở lại.

Những kế sách của Lý Cố là : ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm ; tránh can thiệp bằng quân sự vào những tranh chấp cục bộ của người địa phương ; chỉ để lại một quan lại người địa phương thay mặt thiên triều cai trị ; vấn đề lãnh đạo địa phương để cho người địa phương chọn lấy, người thắng cuộc được thiên triều tấn phong ; quan cai trị địa phương phải là một lãnh chúa thần phục thiên triều ; tước Vương Hầu (dành cho người nhà Hán) và Liệt Thổ (dành cho người địa phương).

Để thực hiện mưu kế của Lý Cố, Hán vương phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân ; cả hai có nhiệm vụ thu thuế và nhận phẩm vật từ những quan lại được nhà Hán tấn phong. Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn thường dân Nhật Nam và Tượng Lâm qui thuận Hán triều.

Năm 144, dân chúng quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại nổi lên chống lại ách cai trị của nhà Hán, nhưng bị thứ sử Hạ Phương đánh bại. Năm 157, một người tên Chu Đạt cùng với dân chúng Cửu Chân nổi lên giết huyện lệnh ở Cự Phong và thái thú Nghê Thức chiếm quyền lãnh đạo. Sự kết hợp tự nhiên giữa dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây nhiều bối rối cho các quan quân cai trị. Dưới sự chỉ huy của đô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng, quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân, phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả lại. Trong ba năm liền, từ 157 dến 160, lực lượng nghĩa quân huyện Tượng Lâm, khoảng 20.000 người, tiến lên đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam. Vài năm sau, năm 178, Lương Long cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam ; năm 181 Hán vương cử Lã Đại mang đại quân sang đánh dẹp tình hình mới tạm yên.

Đến đời Hán Sơ Bình (190-193), nhân nội tình Trung Hoa loạn lạc, dân chúng Tượng Lâm, phối hợp với dân cư hai quận Cửu Chân và Nhật Nam, nổi lên đánh đuổi quân Hán và đạt thắng lợi sau cùng. Năm 192, tiểu vương quốc Champa đầu tiên phía bắc chính thức ra đời, dưới tên Lâm Ấp. Tiểu vương quốc này là đầu tàu mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía bắc và là phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành ở phía nam.






Nguyễn Văn Huy


Theo e-ThongLuan.org
Ý kiến của Văn Nhân .


Bài viết này nếu đặt trên nền địa lý của Sử thuyết Hùng Việt thì hay biết mấy .



Bản đồ Các quận của Đông hãn quốc trên Lãnh thổ nhà Châu cũ .

Xin lưu ý những thông tin về cột đồng Mã Viện trong bài .



Nguồn Laclong / Người Chăm

Bi Hùng , bi hài .


Hiện nay có nhiều người vẫn đang cố ‘nắn’ dòng lịch sử Trung hoa bằng thủ đoạn ‘mập mờ đánh lận con đen’...làm thay đổi bản chất cuộc chiến xâm lược của Hãn quốc Mông Thát thành cuộc nội chiến giữa những người Trung hoa với nhau , nhập nhèm trộn lẫn Hoa với Hán thành một triệt tiêu ý thức phản kháng sự thống trị của ngoại bang nơi con dân Trung hoa đồng thời chiếm đoạt toàn bộ di sản văn hoá văn minh họ Hùng rực rỡ ngàn đời .


Phân tích thông tin lịch sử Trung hoa thời đầu công nguyên sẽ phơi bày sự thật .

Triều Tân của Vương mãng thực hiện cuộc ‘cải cách cấp tốc’ khiến cấu trúc xã hội Trung hoa rã nát , cộng thêm tai trời ách nước khiến ...đói khổ tràn lan khắp nơi , người tộc Liêu – Khiết đan nổi loạn chiếm kinh đô giết Vương Mãng lập nên Hãn quốc từ đó họ cai trị người Trung hoa ...máu và nước mắt đổ suốt gần 600 năm Trung hoa thuộc Hãn cũng là 600 năm người Trung Hoa sống kiếp nô lệ đọa đày.

Trong giai đoạn ‘nắn’ dòng lịch sử Hoa - Hán , Hán – Hoa ...đếm ra có đến 4 ông vua là con cháu Lưu Bang giết nhau , thực đúng... là 1 đoạn bi hài sử..., sự thực ra sao ...?...tất cả thủ lãnh của người Liêu được sử gia Hán tộc ban họ Lưu (liêu ↔lưu) nên bỗng tự nhiên 2 ông người Liêu thủ lãnh Lục lâm thảo khấu ... biến thành cháu Lưu Bang – Lý Bôn vua Trung hoa ... Sử gia Hán tộc đã qua đó mà tháp cái đầu cổ sử Trung hoa lên cái mình Hán sử ...khiến cho mọi người tưởng Hán tộc có lịch sử và văn minh huy hoàng sáng chói mấy ngàn năm...

Vương Mãng hay Mãn tức vua cuối cùng họ Hùng bị bọn Lục lâm thảo khấu giết , Lưu Huyền lên ngôi lập Tiền Hãn quốc ở Trường An –Thiểm tây , (Lưu Huyền là ai ? ...là cháu 6 đời của Lưu Bang ...?)... Khởi nghĩa Xích My của người Trung hoa theo đạo Lão tôn chú bé chăn bò 15 tuổi tên Lưu bồn Tử (thực ra là Lý Bôn tử nghĩa là con cháu Lý Bôn – Hưng đế) lên làm vua gọi là Kiến thế đế khôi phục triều Hiếu của dòng họ Hùng , quân Xích Mi chiếm Trường An treo cổ Lưu Huyền (thế là con cháu đích dòng Lưu Bang treo cổ cháu 6 đời Lưu Bang ?) ...;Tiền hãn quốc diệt vong , năm 25 tướng Lục lâm thảo khấu Lưu Tú hay Lu túi cai quản Hà bắc lên ngôi Hãn (vua – chúa) , sử Trung hoa gọi ông là Quan vũ nghĩa là vua vùng Nam man (vũ ↔ vua ,quan = nom↔nam), Hán sử cạo sửa thành tên riêng Quang vũ đế rồi Hán Quang vũ đế .

Quan vũ – vua ‘nam man’ nhanh chóng đánh diệt các thế lực lãnh chúa địa phương làm chủ cả vùng Hà bắc rồi tiến quân về chiếm Lạc dương – Sơn tây lấy nơi này làm kinh đô , từ kinh đô Lạc dương Lưu Tú mở cuộc phản công tiến sang Thiểm tây đánh bại quân Xích My và Kiến thế đế khôi phục Hãn quốc , để phân biệt với hãn quốc trước của Lưu Huyền sử sách gọi nước của Lưu Tú là Đông hay Hậu hãn quốc . (Lưu Tú là cháu 5 đời của Lưu Bang ...thế là cháu 5 đời giết cháu trực hệ của Lưu Bang )...

Sau khi quân Xích Mi bị chinh phục , lãnh thổ Đông Hãn quốc của Lưu Tú chỉ loanh quanh vùng đất Hà nam – Hà bắc -Sơn tây và Thiểm tây mà thôi , phần còn lại đổ về nam vẫn của người Trung hoa nhưng ...như rắn mất đầu các châu quận không còn thống thuộc vào đâu nữa chia cắt thành những vùng tự trị , tự quản và độc lập phòng thủ , đáng kể nhất là :

1 . Lưu Vĩnh là tôn thất nhà Hán, cháu 8 đời dòng trưởng của Lương Hiếu vương – con Hán Văn Đế, chiếm cứ 20 thành ở Sơn Đông, Giang Tô, Hà Nam, An Huy; tự xưng là thiên tử nối ngôi nhà Hán .

2 - Trương Bộ ở Lang Nha, giữ 12 quận ở miền trung Sơn Đông, liên minh với Lưu Vĩnh, xưng là Tề Vương .

3 - Đổng Hiến (Hân) chiếm Thanh Đàm ở đông nam Sơn Đông, cũng liên minh với Lưu Vĩnh, tự xưng là Hải Tây vương .

4 -. Lý Hiến chiếm Lư Giang phía đông nam , tự xưng Hoài Nam vương .

5 -. Tần Phong chiếm Kinh châu ở phía nam, tự xưng là Sở Lê Vương .

6 . Công Tôn Thuật giữ đất Thục , xưng là Bạch đế nghĩa là vua phía tây .

Riêng ở Giao châu thì Giao châu mục Đặng Nhượng và thái thú Giao Chỉ Tích Quang chỉ lo giữ yên châu quận không xưng đế xưng vương gì cả nên sử gọi là “Sĩ Nhiếp” tức kẻ sĩ nhiếp chính nghĩa là người có học nắm quyền quản trị .


Từ lãnh thổ ban đầu bên bờ Hoàng hà Lưu Tú dần đánh chiếm những vùng chung quanh mở rộng lãnh thổ Đông Hãn quốc .

Về Hướng nam :

Đầu tiên Lưu tú tấn công Lưu Vĩnh vì Lưu Vĩnh (Lý ?) là tông thất trực hệ của Lý Bôn – Lưu Bang tự xưng là thiên tử nối tiếp cơ đồ nhà Hiếu Trung hoa là nguy cơ lớn nhất cho sự tồn tại của Đông hãn quốc . Ngay trong năm 26 khi Xích My chưa bị tiêu diệt Lưu Tú đã tập trung quân chủ lực đi đánh Lưu Vĩnh. Do kinh đô Tuy Dương ở Hà nam của Lưu Vĩnh chỉ cách Lạc Dương của Lưu Tú vài trăm dặm, Lưu Tú chủ trương xuất quân đánh nhanh để thắng. Quả nhiên Lưu Vĩnh không chống nổi, bỏ kinh đô Tuy Dương chạy về giữ Hồ Lăng - Sơn đông , tướng Ngô Hán đánh Hồ Lăng. Trong thành nguy cấp, thủ hạ giết chết Lưu Vĩnh để hàng. (thế là cháu 5 đời lại giết thiên tử Trung hoa cháu trực hệ 8 đời của Lưu Bang ...)

Con Lưu Vĩnh là Lưu Hu chạy về với Hải Tây vương Đổng Hiến.

Năm 29, Lưu Tú đích thân cầm quân đánh bại Hiến ở Xương Lự , Hiến chạy về huyện Cù ,Cùng lúc Lưu Tú sai mãnh tướng Cảnh Yểm đánh Tề vương Trương Bộ , Cuối năm 29 Trương Bộ không chống cự nổi phải đầu hàng. Năm 30 Ngô Hán vây Đổng Hiến ở huyện Cù. Trong thành hết lương Hiến chạy về Hồ Trạch bị bộ tướng của Ngô Hán đuổi theo giết chết.

Như vậy vào năm 30 Toàn bộ đất phía đông, gồm Sơn Đông, Hà Nam và Giang Tô thuộc về Lưu Tú.

Cũng thời gian này Lưu Tú điều quân đánh Thọ Xuân- An huy , sai Mã Thành vây đánh Lý Hiến ở Thư Thành. Lý Hiến cầm cự đến đầu năm 30 thì thành vỡ. Lý Hiến bỏ chạy, bị thủ hạ giết chết. Vùng Lư Giang hàng Lưu Tú.

Tướng Đông hãn Chu Hựu đánh Tần Phong – Sở Lê vương vây khốn Phong ở Lê Khâu - Hồ bắc , Tháng 6 năm 29, Chu Hựu phá được thành bắt được Tần Phong .

Năm 30 Đông hãn quốc đã mở rộng lãnh thổ về phương nam vượt quá Trường giang cận kề Giao châu , Lưu Tú chuyển hướng tấn công về phía tây .

Đầu năm 35, Lưu Tú chia quân làm hai đường đi đánh Công Tôn Thuật. Sầm Bành và Ngô Hán đi ngược Trường Giang vào Thục; Lai Hấp và Tạng Cung đi từ Lũng Tây xuống, hội nhau ở Thành Đô. Công tôn Thuật sai người lẻn đến trại hai cánh quân Hán ám sát chủ tướng Hán quân , Cả Sầm Bành và Lai Hấp bị đâm trọng thương rồi chết . Hai cánh quân Hán khác do Ngô Hán, Tang Cung chỉ huy vẫn tiến vào Thục. Năm 36 ( 35 ?) quân Hán chiếm Thành Đô kinh đô Thục , Công Tôn Thuật bị thương rồi chết , nước của Bạch đế bị diệt .

Công Tôn Thuật làm hoàng đế 12 năm, Tính ra ông thống lãnh miền tây nam Trung hoa 28 năm. Trong 28 năm ấy, khu vực miền tây nam rất ổn định . Trong thời gian làm hoàng đế, Công Tôn Thuật phát triển nông nghiệp, xây dựng thủy lợi, đem lại hạnh phúc cho nhân dân địa phương. Cho nên sau khi Công Tôn Thuật chết, nhân dân địa phương đã xây dựng “Đền Bạch Đế” trong Bạch Đế Thành để tưởng nhớ ông.

Từ năm 35 quân Lưu tú tạm để yên phía nam dồn sức mở rộng đế quốc Hán về miền tây bắc và bắc , Lực lượng sau cùng chống Hán là của Lưu Phương ở Cam túc bị Lưu Tú uy hiếp , Các thủ hạ của Phương lần lượt về hàng Hán. Đến năm 40, Phương bị cô thế, phải dâng biểu xin hàng. Lưu Tú bèn phong cho Phương tước Đại vương , sự biệt đãi này chỉ ra rất có thể Lưu Phương là người gốc Mông - Thát cùng tộc với Lưu Tú nên Tú chỉ thu phục chứ không tiêu diệt , Sau Lưu Phương lại làm phản liên kết với Hung nô chống lại sự cai trị của nước Hán bị Tú bắt giết năm 42 .

Qua phần lược sử nam chinh mở rộng lãnh thổ của Hãn quan vũ Lưu Tú ta đi vào phần chính của bài :

Hậu Hán thư chép “Xưa Sầm Bành cùng Giao Chỉ mục Đặng Nhương quen biết thân thiện nên viết thư cho Nhượng trình bày uy đức nhà Hán (năm 25 – người viết thêm vào), rồi lại sai Thiên tướng quân Khuất Sung gửi hịch đến Giang Nam ban hành chiếu mạng. Do thế,(năm 29 – người viết thêm vào)Nhượng cùng Thái thú Giang Hạ là Hầu Đăng, Thái thú Vũ Lăng là Vương Đường, tướng Trường Sa là Hàng Phúc, Thái thú Quế Dương là Trương Long, Thái thú Linh Lăng là Điền Hấp, thái thú Thương Ngô Đỗ Mục, Thái thú Giao Chỉ Tích Quang cùng nhau sai sứ sang cống. Tất cả đều được phong là Liệt Hầu..”.

Liệu chuyện này có thực ?.

Sầm Bành là tướng của Đông hãn quốc , Đặng Nhượng là quan châu mục nhà Hiếu –Trung hoa , 2 người thuộc 2 giống dòng , 2 quốc gia khác nhau làm sao là bạn thân được , hơn nữa mãi năm 29 quân Lưu Tú mới đánh Kinh châu như thế năm 25 Sầm Bành ở trời bắc Đặng Nhượng cuối trời nam 2 phương trời cách biệt làm sao gửi thư ?. Kẻ sĩ Nhiếp chính như Đặng Nhượng -Tích Quang là những Nho sĩ thấm nhuần đạo thánh hiền đã không nhân cơ hội trời cho mà xưng vương xưng đế thử hỏi có thể bán rẻ quê hương cho giặc để mua lấy chức hầu ?.

Phải chăng sử gia Hán tộc thấy Lưu Tú ...tự nhiên ngưng việc tiến quân xuống phương nam quay ngang đánh đất Thục đã ...phịa ra những dòng chữ trên để lý giải ?.

2 Cánh quân của Sầm Bành và Tạng Cung cùng tấn công Thục .

Hậu Hán Thư chép: “Bành đánh mấy lần không thắng, người Việt mưu phản theo Thục. Tạng Cung dùng mưu để quân Việt tưởng quân Hán là viện quân (giúp Thục chống Hán - người viết thêm vào ). Cung đem rượu thịt để khao quân. Tạng Cung bố trí quân mở đại tiệc, giết trâu lọc rượu thết đãi các cừ soái Việt. Người Việt do thế mà yên . Sau dùng mưu vỗ về yên được người Việt.

Đoạn văn rất tối nghĩa ...chuyện tưởng như đùa ...chỉ mẹo vặt của tướng Hán và 1 bữa tiệc mà xoay chuyển ...vỗ yên được người Việt thì ...thật nực cười nhưng đoạn văn vớ vẩn này cũng cung cấp 3 chi tiết rõ ràng :

Năm 35 quân Đông Hãn đánh đất Thục của Bạch đế , Hậu Hán thư tiết lộ vào thời điểm này :

- người Việt giúp nước Thục của Bạch đế chống lại Đông Hán .

- rõ ràng còn lực lượng quân sự gọi là quân Việt .

- dân Việt vẫn do các ‘cừ súy’ lãnh đạo .

Xét tới đây thì việc năm 34 Tô Định được cử sang làm thái thú Giao chỉ thay Tích Quang chỉ có thể có trong trí tưởng tượng ...

Sau khi ‘xử’ xong vùng chung quanh đất gốc Đông hãn quốc là Hà bắc - Hà nam Sơn tây – Thiểm tây , Lưu tú rảnh rang với tay tới những vùng xa hơn .

Hán sử cũng ghi rõ là năm 41, Mã Viện ra quân hơn vạn người đánh diệt Duy Dĩ ở Hồ Nam và Lý Quảng ở Hoãn Thành tỉnh An Huy TQ bây giờ . Mãi đến năm 42, Mã Viện mới được phong là Phục Ba tướng quân đem hơn vạn quân (qúa nhỏ ?) tiến chiếm Giao châu .

Thời điểm Lưu tú tung quân đánh chiếm Giao châu hoàn toàn hợp lý xét trong thứ tự thời gian và tính toán bước đi .
Khi Mã Viện đánh Giao chỉ thì ở đấy vẫn còn luật Việt mà luật ấy khác luật Hán 10 điều , dân Việt vẫn do các ‘ cừ súy’ lãnh đạo (cừ súy thiết qúy chỉ qúy tộc Lạc Việt ) Mã Viện đã bắt hơn 300 cừ súy đem về Linh lăng , ở Giao chỉ người ta vẫn dùng trống đồng để tỏ rõ quyền uy và tế tự tổ tiên ...,

Những điều trên và tổng hợp thông tin trước đó chứng tỏ trước khi Mã Viện đến ; xã hội Lạc Việt vẫn sinh hoạt theo truyền thống cha ông chưa hề là nô lệ ngoại bang , chính Mã viện mới là kẻ tròng sợi dây thừng trói buộc vào cổ dân Giao chỉ , lưu đày các cừ súy phá bỏ cấu trúc xã hội Lạc Việt ,hủy hoại phần văn minh vật thể lẫn phi vật thể của người họ Hùng tóm lại là Mã Viện thực hiện cưỡng bức Hán hóa người Giao chỉ 1 cách thô bạo và triệt để .

Xét ra ...Năm 39 dân Giao chỉ chưa nô lệ ai thì làm gì có khởi nghĩa Hai bà Trưng chống quân xâm lược ?

Dòng sử Việt hiện nay chắc chắn có sự lầm lẫn về mốc thời gian cuộc khởi nghĩa Hai bà Trưng chống lại sự cai trị của bạo quyền Đông hãn , khởi nghĩa chỉ có thể nổ ra sau ngày mất nước mà thôi .

Kể từ năm 17 là năm nổi loạn của đám Lục lâm thảo khấu tới năm 42 là năm Giao chỉ rơi vào tay Lưu Tú , 25 năm biết bao xương máu và nước mắt người họ Hùng đã đổ, biết bao người đã hiến dâng mạng sống mình mong tổ quốc - giống dòng được trường tồn ...nhưng do... cơ trời vận nước ...việc đến phải đến ...

(Ghi chú :Nhiều đoạn trong bài được trích nguyên văn từ internet)

Nguồn Laclong

Cao bình Vân cứ

Tại làng Mỹ Ả - Đông Mỹ - Thanh Trì – Hà Nội có ngôi đình nhỏ thờ một vị thành hoàng làng là Cao Biền, viên quan đô hộ An Nam thời Đường. Vào khoảng những năm Đường Hàm Thông Cao Biền được nhà Đường cử làm đại tướng sang An Nam để giải quyết vấn đề Nam Chiếu. Cao Biền hạ được thành Đại La do quân Nam Chiếu đang trấn giữ, đánh bại được các thổ mán, sát hại hơn một nửa quân Nam Chiếu. Từ đó Cao Biền ở lại Giao Châu làm tiết độ sứ.

Câu đối ở đình Mỹ Ả:
Phụng ấn Đường triều, Bắc quốc thiên thu công tại xứ
Cao bình Vân cứ, Nam bang vạn cổ ngưỡng hồng ân.


Vế đối thứ hai có từ “Vân” cần hiểu Vân là Vân Nam, thủ đô của quân Nam Chiếu. “Vân cứ” là quân cát cứ từ Vân Nam, hay quân Nam Chiếu.

Dịch:
Vâng ấn triều Đường, nghìn thu Bắc quốc công nghiệp ở xứ
Giỏi dẹp Nam Chiếu, vạn thế Nam bang ngưỡng mộ ân sâu.

Tuy nhiên trong Thiên Nam ngữ lục lại ghi một thông tin hoàn toàn khác với chính sử. Cao Biền sang An Nam và đã đánh dẹp quân của … nhà Hậu Lý Nam Đế:


Sơ vâng chiếu chỉ bước sang
Đến miền Gia Định, Quế Dương dần dà
Những quan Hậu Lý ngày xưa
Con em hợp quẩy được và ngàn quân
Hợp làm tiết nghĩa trung thần
Tiểu nhi bái tướng, phụ nhân anh hùng.
Làm sao Nam Chiếu lại là tàn quân của Lý Phật Tử được?

Ở một nơi khác thờ Cao Biền là làng gốm Kim Lan, nay thuộc Gia Lâm – Hà Nội, tại bái đường đình Kim Lan có câu đối:



Thảo Nam Chiếu trúc Đại La thành, khai Thiên Uy banh lưu ngọc kỷ
Khuyến nông tang truyền chân đào nghệ, an dân tế thế hựu kim xương.

Dịch:
Dẹp Nam Chiếu đắp Đại La thành, khơi kênh Thiên Uy, công nghiệp còn lưu sàng ngọc
Khuyến nông tang truyền nghề làm gốm, yên dân giúp thế, ân đức mãi ghi hộp vàng

Về việc Cao Biền đắp thành Đại La và truyền nghề nông nghề gốm xin bàn trong một bài khác. Ở đây muốn nói tới thông tin Cao Biền “khai Thiên Uy banh”, mở kênh Thiên Uy. Chuyện này tóm tắt như sau. Cao Biền đi thị sát đến “châu Ung, Quảng” thấy đường biển nhiều ghềnh đá làm đắm thuyền, vận chở không thông nên cho quân đến đục đá mở đường. Nhưng lòng kênh ở đây có một chỗ đá cứng như sắt, búa đục không được. Cao Biền cáo trời khiến sấm sét phá tan ghềnh đá. Vì thế kênh đào xong gọi là kênh Thiên Uy.

Vấn đề xác định kênh Thiên Uy ở đâu đã được nhiều người bàn luận. Người thì cho là ở bên Quảng Tây. Người thì bảo ở Vân Nam. Chỉ có ở Việt Nam còn lưu vết khá rõ con kênh này là Kênh Sắt (Thiết Cảng) ở Diễn Châu Nghệ An. Vẫn còn lưu được bia Thiên Uy kính tân tạc hải phái bi có niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (năm 870), văn bia do Bùi Hình, Chưởng Thư ký của Tiết độ sứ Giao Châu Cao Biền soạn. Đây là một trong những văn bia cổ nhất còn giữ được ở nước ta.

Diễn Châu Nghệ An cũng là nơi có nhà thờ họ Cao “Bột Hải triều Nam”
ở Nho Lâm Diễn Thọ. Dòng họ này nổi tiếng làm nghề khai mỏ luyện quặng sắt. Điều này cho thấy rõ ràng địa chất khu vực này có nhiều quặng sắt ngầm, lòng sông bị hóa sắt nên việc khai mở kênh mới khó khăn như vậy. Họ Cao ở Diễn Thọ cũng có thể có quan hệ với Cao Biền.

Còn có bài thơ Quá Thiên Uy kính của Cao Biền để lại như sau:

Sài lang khanh tận khước triều thiên,
Chiến mã hưu tê chướng lĩnh yên.
Quy lộ hiểm hy kim thản đãng,
Nhất điều thiên lý trực như huyền.

Dịch (Lê Nguyễn Lưu):
Sài lang chôn sạch lại chầu vua
Ngựa chiến thôi kêu cõi núi mờ
Đường hiểm nay về bằng phẳng rộng
Một lèo nghìn dặm thẳng như tơ.

Bài thơ trên cho thấy kênh Thiên Uy do Cao Biền mở nằm gần nơi mà Cao Biền đã đi đánh dẹp quân Nam Chiếu. Tới đây thì sự việc trở nên khó hiểu. Kênh Thiên Uy không thể nằm ở Vân Nam vì đây là “Vân cứ”
của quân Nam Chiếu. Nam Chiếu cho tới tận thời Đại Lý chưa hề mất vùng đất Vân Nam vào tay nhà Đường. Cao Biền không thể đào kênh ở Vân Nam được. Kênh Thiên Uy ở cửa biển Quảng Tây thì còn vô lý hơn vì chỗ đó chưa từng bao giờ có quân Nam Chiếu. Còn Kênh Sắt ở Nghệ An thì liên quan gì tới Nam Chiếu?

Thiên Nam ngữ lục lại một lần nữa cho thêm thông tin mới về kênh Thiên Uy :



Việt Nam bốn bể chín châu
Biền thu về một lầu lầu bản chương
Chơi tuần đến Lâm Ấp hương
Dưới sông đá mọc, trên ngàn núi ngăn.
Kênh Thiên Uy ở vùng đất của Lâm Ấp. Như vậy thì Kênh Sắt ở Nghệ An là phù hợp vì vùng này từng là vùng của Lâm Ấp. Nghệ An cũng là vùng đất mà Mai Hắc Đế đã đắp thành luỹ khởi nghĩa duới thời Đường.

Truyền thuyết Việt còn kể chuyện Cao Biền trảm long sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), phá long mạch của Nam Chiếu. Trà Khúc là đất Lâm Ấp chứ Nam Chiếu đi đằng nào mà vào đến đây?

Nam Chiếu – Hậu Lý Nam Đế - Lâm Ấp cuối cùng thì có quan hệ gì với nhau? Vấn đề này chỉ trở nên sáng tỏ dưới ánh sáng của Sử thuyết họ Hùng.

Hậu Lý Nam Đế - Lý Phật Tử chính là Khu Liên, người lập nước Lâm Ấp. Dật sử chép nhà Tùy thu phục Lý Phật Tử và Bát Lang là hình ảnh cuộc đánh dẹp của quân Tùy diệt nước Lâm Ấp sau 600 năm tồn tại của quốc gia này.

Nhưng tàn quân Lâm Ấp chưa hết. Họ Phạm (họ vua Lâm Ấp) vẫn quay lại cùng khởi nghĩa với Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Phạm Thị Uyển là Mai hoàng hậu lúc 18 tuổi, đã chiến đấu chống quân Đường hy sinh bên sông Tô Lịch. Hai anh em song sinh của bà là Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng. Câu “Tiểu nhi bái tướng, phụ nhân anh hùng” phải chăng có phần nào liên quan đến việc này?

Khởi nghĩa của Mai Hắc Đế và Bố Cái Phùng Hưng từ Đường Lâm – Tây Thanh Nghệ, vùng đất Lâm Ấp xưa, chính là khởi đầu của nước Nam Chiếu. Phùng Hưng đã tiến lên chiếm toàn bộ vùng Tây Bắc (Phong Châu đô hộ phủ) gồm cả Vân Nam. Hậu Lý – Lâm Ấp – Nam Chiếu là một phần lịch sử phía Tây và Nam của nước ta đã bị lãng quên trong chính sử.
 

Điểu Cầm Chim ... thực chứng .

....................
Sự thực đang lộ dần trong khi chờ sự thật lịch sử phơi bày toàn bộ người họ Hùng không được quên câu... Khu Linh người nước NAM ta ...


Mới đây qua việc phát hiện nền văn hóa khảo cổ Khả lạc ở Qúy châu (chủ yếu trong năm 2001 ) , 1 vấn đề mới rất quan trọng đối với văn hoá và lịch sử Việt nam được đặt ra :

Khả lạc ký âm la tinh là KELE , Khả tiếng Mường là người đồng nghĩa với từ kẻ trong tiếng Việt nên rất có thể Khả Lạc = Kele chính là KẺ LA trong tiếng Việt (ai ơi chớ lấy kẻ La , cái dưa thì khú cái cà thì thâm ...), Kẻ La là cộng đồng người ở về hướng Xích đạo so với địa bàn sinh tụ của người Kinh , trong Dịch học thì La – Kanh đồng nghĩa với Bắc – nam , La – Kanh chính là 2 cộng đồng người khởi nguyên của Hữu Hùng quốc hay nước họ Hùng tức thủy tổ Trung hoa .

Từ việc phát hiện nền văn hóa khảo cổ Khả Lạc – Kẻ La Giới nghiên cứu đang đặt vấn đề về sự liên quan văn hóa và lịch sử giữa Lĩnh nam và Nam đông dương thời cận kế công nguyên .

Để giúp bạn đọc có cái nhìn chính xác về lịch sử và văn hóa người Việt 1 thời , xin dẫn 1 số thông tin từ mạng internet làm tài liệu tham khảo giúp bạn đọc dễ suy xét hơn về những điều đã viết trong bài ... Điểu Cầm Chim ..

A - Tin và ảnh: Lâm Thị Mỹ Dung

Nguồn : http://baotangnhanhoc.org

TRAO ĐỔI HỌC THUẬT QUỐC TẾ

“Dấu tích văn hóa Dạ Lang ở Việt Nam”

INTERNATIONAL SEMINAR “The Traces of YeLang Culture in Vietnam”

Đơn vị tổ chức

Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Pham Huy Thông Foundation

Thời gian sáng ngày 02.11.2010

Địa điểm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Có 05 báo cáo của học giả Đức, Trung Quốc và Việt Nam

1. Báo cáo của TS. YANG YONG (Institute of Archaeology, Chinese academy of Social Sciences (IACASS) ). On the Kele Culture.

Kết quả khai quật Khả Lạc (Kele)

Yelang là một nhóm tộc người hay nhà nước ở Tây Nam TQ

Kele là phát hiện khảo cổ học quan trọng nhất có quan hệ với Dạ Lang (Yelang cổ)

Kele là một TP nhỏ ở Hezzhang, tây bắc Quý Châu. Năm 1970, khai quật một số mộ táng ( niên đại TK 4-1 BC). Mộ phân bố trên một số đồi nhỏ (cao 60-100m) quanh thung lũng

Có hai loại mộ về niên đại: 3 mộ Hán (Han culture tombs)

108 mộ địa phương sơ kỳ Chiến Quốc tiền kỳ Tây Hán (Local style có nhiều nét địa phương so với những mộ Hán đương thời nên gọi là mộ của VH Khả Lạc )

Giữa hai loại mộ này có sự phân biệt rõ ràng về không gian. Mộ Hán ở phía Nam.

Mộ địa phương thường có chiều dài 2-3m rộng 1m, sâu chưa đến1m.

Ít vết quan tài gỗ sơn. Mộ đơn, chôn nằm ngửa, một số tay khoanh trước khi chôn. Một số đầu chôn vào ấm đồng hay trống đồng, giai đoạn muộn hơn sắt thay thế ấm đồng, có trường hợp chậu úp lên mặt người chết.

Khoảng 800đồ tùy táng chôn theo các mộ dạng địa phương: Gốm, vải, da, xương, đồng, sắt, ấn…Nhiều đồ minh khí. Công cụ, nông cụ…Nhiều vũ khí (hoạt động quân sự phát triển)

Nhiều chứng cứ liên quan đến diễn giải đời sống KT, XH và tinh thần có thể so sánh với thư tịch và Sử ký Tư Mã thiên (phần chép về Dạ lang). Có nét chung là búi tóc

Có thể thấy tính chất bộ lạc trong xã hội của người Dạ Lang.

Đồ đồng dùng trong mộ táng (chôn đầu) thể hiện tôn giáo nguyên thủy, thủ lĩnh tôn giáo hay phù thủy.

Quan hệ văn hóa

Khác với mộ văn hóa Điền và những tàn tích văn hóa khu vực xung quanh, mặt khác giữa chúng có những nét chung

Quan hệ gần gũi với văn hóa Ba Shu (Ba Thục) giao dịch buôn bán, ảnh hưởng hay di dân Ba Thục vào Khả Lạc

Quan hệ với văn hóa Hán: Đồ đựng bằng sắt, gương đồng…

Với ĐNA: tục úp mặt hay chôn đầu vào đồ đồng được tìm thấy ở một số nơiở ĐNA lục địa

Trung Hoa

Thời Tần Hán, một số người Kele… di cư xuống phía nam

Hậu Hán thư cho biết có môt số người Dạ lang sống ở miền Bắc và miềnTrung Việt Nam.

Kết luận: Nhiều chứng cứ cho thấy văn hóa Kele (Khả Lạc) là của người Dạ Lang (Yelang people). Văn hóa Khả Lạc là một phần của Dạ Lang. Tuy vậy vẫn cần thêm những nghiên cứu.

2. Nguyễn Hữu Tâm (TTTSĐNA)

Vấn đề nước Dạ Lan và ghi chép về Dạ Lang trong một số thư tịch cổ Trung Quốc

3. TS. Nguyễn Việt (TTTSĐNA): The Traces of Yelang culture in Việt Nam (Dấu vết văn hóa Dạ Lang ở Việt Nam).

Gồm các vấn đề

Làng Vạc Đông Sơn Nam tiến

Yalang - OuLe –Linyi (Dạ Lang – Âu Lạc và Lâm Ấp)

Dấu vết của người Dạ Lang vào người Tây Âu

Nhận thức mới về Văn hóa Đông Sơn

Một phần Gò Mun đã thuộc Đông Sơn? Bùng nổ của ĐS liên quan đến biến động chung của khu vực

Phân chia khu vực: Bắc, Nam Đông Sơn

Lĩnh Nam chưa nhận biết nền văn hóa đồ đồng rõ ràng như Điền hay Đông Sơn, có thể là rìa của Đông Sơn Bắc.

Khai quật Khả Lạc quan trọng đối với nhận biết Dạ Lang

Làng Vạc và Nam tiến của hiện vật Đông Sơn - di chuyển của quý tộc Tây Âu và Âu Lạc về phía nam

Vấn đề Tây Âu trước khi nhập với Lạc Việt!

Lưu ý về chôn đầu người trong đồ đồng có phải chỉ chôn đầu người hay không? hay do đồng giúp lưu giữ xương sọ còn những bộ phận thi thể khác đã bị phân hủy hoàn toàn.

Nồi trống Phú Xuyên, Làng Vạc… những hiện vật khác tìm những đặc điểm chung với đồ đồng Kele dạng chân đế 4 chấm.

4. TS. Andreas Reinecke (Viện Khảo cổ học liên bang Đức).

Những dấu hiệu về mối quan hệ xa giữa Lĩnh Nam TQ và Nam Đông Dương

Vấn đề cách và đường đi của hiện vật từ chỗ này sang chỗ khác (Trống đồng là vật chứa biểu tượng chứ không phải hàng hóa thông thường).

Trình bày về đồ đồng Hán tìm thấy ở Miền Trung Việt Nam và Nam Việt Nam

Và những kết quả mới nhất ở Prohear (Cămpuchia)




Bài trình bày của TS. Andreas Reinecke (hình trên là hiện vật ở Lai Nghi, Quảng Nam và dưới là hiện vật Prohear, Cămpuchia)

5. Tạ Đức (TTTSĐNA) Quan hệ Dạ Lang-Văn Lang từ nghiên cứu so sánh Dân tộc học ngôn ngữ



B - Đi sâu hơn xin Trích 1 phần bài viết của Ts Nguyễn Việt làm tư liệu thực chứng cho chủ đề Điểu Cầm Chim :

Truyền thuyết Thánh Gióng –Sự phối trộn các thành tố huyền thoại Âu và Lạc ở thế kỷ 3 trước Công nguyên .

TS Nguyễn Việt

nguồn : http://www.drnguyenviet.com

................
Sự việc bắt đầu bằng những phát hiện khảo cổ học tại vùng Khả lạc (Quý Châu, Trung Quốc). Đây là một khu mộ táng lớn có niên đại từ thời Chiến Quốc đến Đông Hán đã được phát hiện và khai quật từ 1978 rồi 2000. Loại hình mộ táng và di vật chon theo của chủ nhân khu mộ đã cho phép các nhà nghiên cứu Trung Quốc đề xuất một văn hóa khảo cổ riêng biệt mang tên “Văn hóa Khả Lạc” (KeLe Culture) . Khi mở rộng nghiên cứu so sánh, các nhà khoa học Việt Nam, Trung Quốc cũng như quốc tế đều nhận thấy sự gần gũi của cách chon cất giữa văn hóa Khả Lạc với khu mộ táng Đông Sơn ở Làng Vạc (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Đó là kiểu chôn người chết trong những huyệt đất nông có dùng đá kè mộ và nhất là cách đặt đầu người chết bên trong hoặc bên trên các đồ đựng bằng đồng như trống, chậu, nồi, đĩa… Và điểm theo tôi là quyết định nhất để có thể nối văn hóa Khả Lạc với những chủ nhân Đông Sơn ở Làng Vạc đó là họ đều sở hữu những chiếc vòng ống bằng đồng có bản dẹt và nhất là những thanh kiếm lưỡi sắt (hoặc đồng) tra vào phần cán đúc bằng đồng trang trí rất đẹp và có hình thuyền cong, mỏng gắn ở đốc chuôi. Đây là lọai kiếm mang tính đặc thù văn hóa tộc người vô cùng độc đáo và rõ nét. Ngay ở Trung Quốc chúng cũng chỉ mới phát hiện được ở Khả Lạc (khoảng 20 chiếc) và ở Việt Nam cũng mới thấy ở vùng Làng Vạc và phụ cận (khoảng 50 chiếc), chưa thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên toàn thế giới. Sự tương đồng này đã được các nhà khoa học xác nhận như là minh chứng rõ nhất cho một làn sóng di chuyển những quý tộc Tây Âu – Dạ Lang từ vùng đất Dạ Lang xưa (Quý Châu, tây bắc Quảng Tây) xuống khu vực miền bắc Việt Nam .

Sự kiện này được củng cố thêm bởi việc phát hiện loại qua đồng lưỡi thẳng, đốc có hình vị thần của người Tây Âu dọc sông Hồng từ Vân Nam đến Việt Trì và loại nồi đồng có quai xoắn thừng mỏng dẹt trên có tượng chim nhỏ, đáy nồi chia làm bốn ô, trong đó có hoặc không có chân núm nổi, phân bố ở vùng nam và đông nam Cổ Loa ( Thuận Thành Bắc Ninh, Văn Lâm, Mỹ Hào Hưng Yên, Phú Xuyên, Mỹ Đức Hà Nội, Duy Tiên Hà Nam). Đây cũng là hai loại hình tùy táng đặc trưng cho văn hóa Khả Lạc ở Quý Châu. Theo các nhà nghiên cứu Trung Quốc, văn hóa Khả Lạc có niên đại từ thế kỷ 5 trước Công nguyên đến thế kỷ 2 sau Công nguyên, đồng thời với văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Những hiện vật kể trên đều nằm trong khung niên đại sớm của nền văn hóa này (thế kỷ 5 đến thế kỷ 2 trước Công nguyên).

Tài liệu thư tịch cũng hé mở cho chúng ta khi hai lần Hậu Hán thư nói đến những người “man” Dạ Lang tồn tại ở “bên ngoài” Cửu Chân. Một lần khi nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú. Một lần khác vào năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Sơ đời Hán An đế (năm 107) khi nhắc đến man Dạ Lang bên ngoài Cửu Chân nổi dậy chiếm đất lập lãnh thổ rông trên 1000 dặm . Quận Cửu Chân là một trong 9 quận của nhà Hán lập ra sau khi chiếm Nam Việt vào năm 110 trước Công nguyên. Phân bố của cửu Chân bao gồm vùng núi Tam Điệp trở vào đến vùng núi Nghi Sơn giáp ranh Thanh Hóa – Nghệ An hiện nay. “Bên ngoài” Cửu Chân có thể hiểu là vùng núi phía tây và phía nam Thanh Hóa hiện nay. Đây chính là vùng phân bố của các đồ đồng thau Đông Sơn mang phong cách giống với văn hóa Khả Lạc của người Dạ Lang ở Quý Châu thời xưa. Có một số dấu hiệu khảo cổ cho thấy rằng chính những người Dạ Lang này, với tư cách tàn quân Âu Lạc đã tham gia cùng Khu Liên lập nên nước Lâm Ấp chống Hán trong nhiều thế kỷ thuộc nửa đầu thiên kỷ 1 sau Công nguyên.

Vậy cuộc di chuyển của những thủ lĩnh Dạ Lang, Tây Âu xuống miền bắc Việt Nam đã diễn ra do đâu và như thế nào ?

Dạ Lang được nhắc đến đầu tiên trong Sử ký của Tư Mã Thiên (thế kỷ 2 trước Công nguyên). Khi đó có hai sự kiện lớn liên quan đến Dạ Lang, một là việc Triệu Đà mua chuộc áp phục Dạ Lang theo Nam Việt chống Hán vào khoảng 179-180 trước Công nguyên. Hai là, nhà Tây Hán cử quân đánh Nam Việt vào năm 110 trước Công nguyên có cử tướng sang Dạ Lang điều quân tham chiến. Nghiên cứu về nhà nước Dạ Lang đã làm rõ được đó là một tiểu quốc được cho là “lớn nhất ở Tây Nam Di” đối với các triều đại Trung Hoa cổ điển. Dạ Lang vốn phân bố chủ yếu ở đất Quý Châu hiện nay, xưa kia tiếp giáp về phía đông nam trực tiếp với Tây Âu. Sau khi Tây Âu nhập với Văn Lang để thành Âu Lạc thì cũng chính là tiếp liền với Âu Lạc. Khu vực tiếp giáp đó chính là phía tây bắc Quảng Tây hiện nay. Chúng tôi cho rằng một bộ phận phía bắc của Tây Âu có chung nền văn hóa với Dạ Lang, thể hiện qua sự tương đồng về vũ khí (qua, dao găm) và các đồ dùng gia dụng khác (trống, chuông, vòng tay, tai, nồi, chậu, trống…), trong đó có thể có chung cả một vị thần tre là Trúc Vương.

Sự ra đời của Âu Lạc đã rõ là sự kết hợp của khối Tây Âu khi đó phân bố ở Quảng Tây, Quảng Đông, một phần Vân Nam và các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, với những người Lạc Việt của nước Văn Lang (vùng trung, hạ lưu sông Hồng, lưu vực sông Mã, sông Cả) lấy Cổ Loa làm kinh đô đầu tiên. Sự khác biệt trong bộ di vật Đông Sơn từ thế kỷ 3 trước Công nguyên trở về sau trong phạm vi cương vực Văn Lang đã ghi nhận sự tham gia của khối Tây Âu này. Trong thực tế, khối Tây Âu cũng chính là một bộ phận Lạc Việt phía bắc đã chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa nhà nước Sở, Ngô, Việt, Ba Thục mà thôi. Khi kết hợp với Văn Lang thủ lĩnh Tây Âu là Thục Phán đã nắm quyền lãnh đạo Âu Lạc. Có lẽ vì tàn dư Ba Thục có đậm nét trong văn hóa Tây Âu nên sách sử từ thế kỷ thứ ba sau Công nguyên (Giao Châu ngoại vực ký) đã ghi nhận : Thục Phán là “Thục vương tử” – tức dòng dõi vua nước Thục (đã bị mất nước từ khoảng 100 năm trước đó – năm 316 trước Công nguyên). Truyền thuyết dân gian cũng nói đến thất bại của Hùng vương là do vua Thục xin thông gia không được đã đem quân đến đánh. Tài liệu khảo cổ học Việt Nam xác nhận có nhiều yếu tố văn hóa Ba Thục để lại trong bộ di vật từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Tuy nhiên, đi vào chi tiết thì sự thiếu vắng kiếm kiểu Khả Lạc, Dạ Lang ở đồng bằng sông Hồng tương đồng với vắng bóng qua đồng trong sưu tập vũ khí Làng Vạc cho thấy dường như có một bộ phận thủ lĩnh Dạ Lang khi bị sức ép của Tần, Hán đã đi theo đường núi từ Quý Châu đến vùng thượng du sông Hiếu (Nghệ An) và chỉ có khối Tây Âu đi xuống đồng bằng sông Hồng thôi.


Nguồn Laclong